TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của gia chủ Ugga người Vesàlì, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga, người Vesàlì đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người Vesàlì bạch Thế Tôn:
TTC 2—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có cháo nấu từ hoa cây sàla thật là khả ý, có thể ăn được. Mong Thế Tôn nhận lấy cháo ấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có thịt heo nấu chung với trái táo, thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái (chúng con)!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có loại rau ống dài có dầu thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có cháo gạo, các hạt đen được loại bỏ dùng với các món canh, các món đồ ăn nhiều loại, thật là khả ái. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ái, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có các loại vải dệt từ Kàdi thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có ghế dài với nệm trải giường bằng lông cừu, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadalimigapavarapaccat-tharanam, tấm thảm có lọng che phía trên, ghế dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Bạch Thế Tôn dầu rằng chúng con được biết: Những vật ấy không phù hợp với Thế Tôn, nhưng bạch Thế Tôn, tấm phản nằm bằng gỗ chiên đàn này đáng giá hơn một trăm ngàn, mong Thế Tôn hãy nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
Rồi Thế Tôn làm cho tùy hỷ gia chủ Ugga người xứ Vesàlì, với bài kệ tùy hỷ này:
Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Ðối với bậc Chánh trực,
Vui lòng đem bố thí,
Vải mặc và giường nằm,
Ăn uống các vật dụng.
Biết được bậc La-hán,
Ðược ví là phước điền,
Nên các bậc Chân nhân,
Thí những vật khó thí,
Ðược từ bỏ, giải thoát,
Không làm tâm đắm trước,
Người thí vật khả ý,
Nhận được điều khả ý.
Rồi Thế Tôn sau khi tùy hỷ gia chủ Ugga với bài kệ tùy hỷ này, liền đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Ugga người Vesàlì, sau một thời gian bị mệnh chung. Bị mệnh chung, gia chủ Ugga người Vesàlì được sanh với một thân rất khả ý.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thiên tử Ugga, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Thiên tử Ugga đang đứng một bên:
—Này Ugga, sự việc có như ý muốn không?
—Bạch Thế Tôn, sự việc có được như ý con muốn.
Rồi Thế Tôn với bài kệ nói với Thiên tử Ugga:
Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Bố thí vật tối thượng,
Sẽ được quả tối thượng.
Người có vật thù diệu,
Nhận được điều thù diệu,
Người có vật tối thắng,
Nhận được điều tối thắng.
Người nào đem bố thí
Vật tối thượng, thù diệu,
Và các vật tối thượng,
Người ấy thọ mạng dài,
Và được cả danh xưng,
Tại chỗ vị ấy sanh.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena uggassa gahapatino vesālikassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho uggo gahapati vesāliko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uggo gahapati vesāliko bhagavantaṁ etadavoca:
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpaṁ me, bhante, sālapupphakaṁ khādanīyaṁ;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpaṁ me, bhante, sampannakolakaṁ sūkaramaṁsaṁ;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpaṁ me, bhante, nibbattatelakaṁ nāliyasākaṁ;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpo me, bhante, sālīnaṁ odano vicitakāḷako anekasūpo anekabyañjano;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpāni me, bhante, kāsikāni vatthāni;
tāni me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpo me, bhante, pallaṅko gonakatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo sauttaracchado ubhatolohitakūpadhāno.
Api ca, bhante, mayampetaṁ jānāma:
‘netaṁ bhagavato kappatī’ti.
Idaṁ me, bhante, candanaphalakaṁ agghati adhikasatasahassaṁ;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
Atha kho bhagavā uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ iminā anumodanīyena anumodi:
“Manāpadāyī labhate manāpaṁ,
Yo ujjubhūtesu dadāti chandasā;
Acchādanaṁ sayanamannapānaṁ,
Nānāppakārāni ca paccayāni.
Cattañca muttañca anuggahītaṁ,
Khettūpame arahante viditvā;
So duccajaṁ sappuriso cajitvā,
Manāpadāyī labhate manāpan”ti.
Atha kho bhagavā uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ iminā anumodanīyena anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho uggo gahapati vesāliko aparena samayena kālamakāsi.
Kālaṅkato ca uggo gahapati vesāliko aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapajji.
Tena kho pana samayena bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho uggo devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho uggaṁ devaputtaṁ bhagavā etadavoca:
“kacci te, ugga, yathādhippāyo”ti?
“Taggha me, bhagavā, yathādhippāyo”ti.
Atha kho bhagavā uggaṁ devaputtaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Manāpadāyī labhate manāpaṁ,
Aggassa dātā labhate punaggaṁ;
Varassa dātā varalābhi hoti,
Seṭṭhaṁ dado seṭṭhamupeti ṭhānaṁ.
Yo aggadāyī varadāyī,
seṭṭhadāyī ca yo naro;
Dīghāyu yasavā hoti,
yattha yatthūpapajjatī”ti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Vesālī in the hall with the peaked roof in the Great Wood. Then, in the morning, the Blessed One dressed, took his bowl and robe, and went to the residence of the householder Ugga of Vesālī, where he sat down in the appointed seat. Then the householder Ugga of Vesālī approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to the Blessed One:
SC 2“Bhante, in the presence of the Blessed One I heard and learned this: ‘The giver of what is agreeable gains what is agreeable.’ Bhante, my sal flower porridge is agreeable. Let the Blessed One accept it from me, out of compassion.” The Blessed One accepted, out of compassion.
SC 3“Bhante, in the presence of the Blessed One I heard and learned this: ‘The giver of what is agreeable gains what is agreeable.’ Bhante, my pork embellished with jujubes is agreeable. Let the Blessed One accept it from me, out of compassion.” The Blessed One accepted, out of compassion.
SC 4“Bhante, in the presence of the Blessed One I heard and learned this: ‘The giver of what is agreeable gains what is agreeable.’ Bhante, my fried vegetable stalks are agreeable. Let the Blessed One accept them from me, out of compassion.” The Blessed One accepted, out of compassion.
SC 5“Bhante, in the presence of the Blessed One I heard and learned this: ‘The giver of what is agreeable gains what is agreeable.’ Bhante, my boiled hill rice cleared of dark grains, accompanied by various sauces and condiments, is agreeable. Let the Blessed One accept it from me, out of compassion.” The Blessed One accepted, out of compassion. an.iii.50
SC 6“Bhante, in the presence of the Blessed One I heard and learned this: ‘The giver of what is agreeable gains what is agreeable.’ Bhante, my cloths from Kāsi are agreeable. Let the Blessed One accept them from me, out of compassion.” The Blessed One accepted, out of compassion.
SC 7“Bhante, in the presence of the Blessed One I heard and learned this: ‘The giver of what is agreeable gains what is agreeable.’ Bhante, my couch spread with rugs, blankets, and covers, with an excellent covering of antelope hide, with a canopy above and red bolsters at both ends, is agreeable. Although I know this is not allowable for the Blessed One, this sandalwood plank of mine is worth over a thousand. Let the Blessed One accept it from me, out of compassion.” The Blessed One accepted, out of compassion.
SC 8Then the Blessed One expressed his appreciation to the householder Ugga of Vesālī thus:
SC 9“The giver of the agreeable gains the agreeable,
when he gives willingly to the upright ones
clothing, bedding, food, and drink,
and various kinds of requisites.
SC 10“Having known the arahants to be like a field
for what is relinquished and offered, not held back,
the good person gives what is hard to give:
the giver of agreeable things gains what is agreeable.”
SC 11Then, after expressing his appreciation to the householder Ugga of Vesālī, the Blessed One rose from his seat and left. Then, some time later, the householder Ugga of Vesālī passed away. After his death, the householder Ugga of Vesālī was reborn among a certain group of mind-made deities. On that occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park. Then, when the night had advanced, the young deva Ugga, of stunning beauty, illuminating the entire an.iii.51 Jeta’s Grove, approached the Blessed One, paid homage to him, and stood to one side. The Blessed One then said to him: “I hope, Ugga, that it is as you would have wished.”
“Surely, Bhante, it is as I had wished.”
SC 12Then the Blessed One addressed the young deva Ugga with verses:
SC 13“The giver of the agreeable gains the agreeable;
the giver of the foremost again gains the foremost;
the giver of the excellent gains the excellent;
the giver of the best reaches the best state.
SC 14“The person who gives the best,
the giver of the foremost,
the giver of the excellent,
is long-lived and famous
wherever he is reborn.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, rừng Ðại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của gia chủ Ugga người Vesàlì, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Ugga, người Vesàlì đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ Ugga, người Vesàlì bạch Thế Tôn:
TTC 2—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có cháo nấu từ hoa cây sàla thật là khả ý, có thể ăn được. Mong Thế Tôn nhận lấy cháo ấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có thịt heo nấu chung với trái táo, thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái (chúng con)!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có loại rau ống dài có dầu thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có cháo gạo, các hạt đen được loại bỏ dùng với các món canh, các món đồ ăn nhiều loại, thật là khả ái. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ái, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có các loại vải dệt từ Kàdi thật là khả ý. Mong Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
—Bạch Thế Tôn, con nghe như sau từ miệng Thế Tôn, con có nhận lãnh như sau từ miệng Thế Tôn: “Ai cho vật khả ý, nhận được điều khả ý”. Bạch Thế Tôn, con có ghế dài với nệm trải giường bằng lông cừu, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadalimigapavarapaccat-tharanam, tấm thảm có lọng che phía trên, ghế dài có hai đầu gối chân màu đỏ. Bạch Thế Tôn dầu rằng chúng con được biết: Những vật ấy không phù hợp với Thế Tôn, nhưng bạch Thế Tôn, tấm phản nằm bằng gỗ chiên đàn này đáng giá hơn một trăm ngàn, mong Thế Tôn hãy nhận lấy, vì lòng từ ái!
Và Thế Tôn nhận lấy, vì lòng từ ái.
Rồi Thế Tôn làm cho tùy hỷ gia chủ Ugga người xứ Vesàlì, với bài kệ tùy hỷ này:
Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Ðối với bậc Chánh trực,
Vui lòng đem bố thí,
Vải mặc và giường nằm,
Ăn uống các vật dụng.
Biết được bậc La-hán,
Ðược ví là phước điền,
Nên các bậc Chân nhân,
Thí những vật khó thí,
Ðược từ bỏ, giải thoát,
Không làm tâm đắm trước,
Người thí vật khả ý,
Nhận được điều khả ý.
Rồi Thế Tôn sau khi tùy hỷ gia chủ Ugga với bài kệ tùy hỷ này, liền đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Ugga người Vesàlì, sau một thời gian bị mệnh chung. Bị mệnh chung, gia chủ Ugga người Vesàlì được sanh với một thân rất khả ý.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thiên tử Ugga, sau khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Thế Tôn nói với Thiên tử Ugga đang đứng một bên:
—Này Ugga, sự việc có như ý muốn không?
—Bạch Thế Tôn, sự việc có được như ý con muốn.
Rồi Thế Tôn với bài kệ nói với Thiên tử Ugga:
Ai cho vật khả ý,
Nhận được điều khả ý,
Bố thí vật tối thượng,
Sẽ được quả tối thượng.
Người có vật thù diệu,
Nhận được điều thù diệu,
Người có vật tối thắng,
Nhận được điều tối thắng.
Người nào đem bố thí
Vật tối thượng, thù diệu,
Và các vật tối thượng,
Người ấy thọ mạng dài,
Và được cả danh xưng,
Tại chỗ vị ấy sanh.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena uggassa gahapatino vesālikassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho uggo gahapati vesāliko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uggo gahapati vesāliko bhagavantaṁ etadavoca:
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpaṁ me, bhante, sālapupphakaṁ khādanīyaṁ;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpaṁ me, bhante, sampannakolakaṁ sūkaramaṁsaṁ;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpaṁ me, bhante, nibbattatelakaṁ nāliyasākaṁ;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpo me, bhante, sālīnaṁ odano vicitakāḷako anekasūpo anekabyañjano;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpāni me, bhante, kāsikāni vatthāni;
tāni me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘manāpadāyī labhate manāpan’ti.
Manāpo me, bhante, pallaṅko gonakatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo sauttaracchado ubhatolohitakūpadhāno.
Api ca, bhante, mayampetaṁ jānāma:
‘netaṁ bhagavato kappatī’ti.
Idaṁ me, bhante, candanaphalakaṁ agghati adhikasatasahassaṁ;
taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Paṭiggahesi bhagavā anukampaṁ upādāya.
Atha kho bhagavā uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ iminā anumodanīyena anumodi:
“Manāpadāyī labhate manāpaṁ,
Yo ujjubhūtesu dadāti chandasā;
Acchādanaṁ sayanamannapānaṁ,
Nānāppakārāni ca paccayāni.
Cattañca muttañca anuggahītaṁ,
Khettūpame arahante viditvā;
So duccajaṁ sappuriso cajitvā,
Manāpadāyī labhate manāpan”ti.
Atha kho bhagavā uggaṁ gahapatiṁ vesālikaṁ iminā anumodanīyena anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho uggo gahapati vesāliko aparena samayena kālamakāsi.
Kālaṅkato ca uggo gahapati vesāliko aññataraṁ manomayaṁ kāyaṁ upapajji.
Tena kho pana samayena bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho uggo devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho uggaṁ devaputtaṁ bhagavā etadavoca:
“kacci te, ugga, yathādhippāyo”ti?
“Taggha me, bhagavā, yathādhippāyo”ti.
Atha kho bhagavā uggaṁ devaputtaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Manāpadāyī labhate manāpaṁ,
Aggassa dātā labhate punaggaṁ;
Varassa dātā varalābhi hoti,
Seṭṭhaṁ dado seṭṭhamupeti ṭhānaṁ.
Yo aggadāyī varadāyī,
seṭṭhadāyī ca yo naro;
Dīghāyu yasavā hoti,
yattha yatthūpapajjatī”ti.
Catutthaṁ.