TTC 1—Khi nào, này các Tỷ-kheo, các vua phi pháp có mặt, khi ấy, các đại thần phi pháp của vua có mặt. Khi nào các đại thần phi pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt. Khi nào các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở thành phi pháp. Khi nào dân chúng thị thành và ở các làng là phi pháp, khi ấy mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo. Khi nào mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo, khi ấy các dãy ngân hà, các loại sao đi sai quỹ đạo. Khi nào các dãy ngân hà, các loại sao đi sai quỹ đạo, khi ấy ngày đêm đi sai quỹ đạo. Khi nào ngày đêm đi sai quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo. Khi nào tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi sai quỹ đạo. Khi nào thời tiết và năm đi sai quỹ đạo, khi ấy gió thổi sai lạc trái mùa. Khi nào gió thổi sai lạc trái mùa, khi ấy chư Thiên bực mình. Khi nào chư Thiên bực mình, khi ấy trời mưa không có điều hòa. Khi nào trời mưa không có điều hòa, khi ấy lúa chín trái mùa. Này các Tỷ-kheo, khi nào lúa chín trái mùa, khi ấy các loài Người nuôi sống với loại lúa ấy, thì thọ mạng sẽ ngắn, dung sắc xấu, yếu sức và nhiều bệnh.
TTC 2Khi nào, này các Tỷ-kheo, các vua đúng pháp có mặt, thì khi ấy các vị đại thần đúng pháp của vua có mặt. Khi nào các vị đại thần đúng pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà-la-môn gia chủ đúng pháp có mặt. Khi nào các Bà-la-môn gia chủ đúng pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở thành đúng pháp. Khi nào dân chúng thị thành và ở các làng là đúng pháp, khi ấy mặt trăng, mặt trời đi đúng quỹ đạo. Khi nào mặt trăng, mặt trời đi đúng quỹ đạo, khi ấy các dãy ngân hà, các loại sao đi đúng quỹ đạo. Khi nào các dãy ngân hà, các loại sao đi đúng quỹ đạo, khi ấy ngày đêm đi đúng quỹ đạo. Khi nào ngày đêm đi đúng quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi đúng quỹ đạo. Khi nào tháng và nửa tháng đi đúng quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi đúng quỹ đạo. Khi nào thời tiết và năm đi đúng quỹ đạo, khi ấy gió thổi đúng mùa. Khi nào gió thổi đúng mùa, khi ấy chư Thiên hoan hỉ. Khi nào chư Thiên hoan hỉ, khi ấy trời mưa điều hòa. Khi nào trời trở mưa điều hòa, khi ấy, lúa chín đúng mùa. Này các Tỷ-kheo, khi nào lúa chín đúng mùa, khi ấy loài Người nuôi sống với loại lúa ấy, thọ mạng sẽ lâu dài, dung sắc đẹp đẽ, có sức mạnh và không có nhiều bệnh.
Khi đàn bò lội sông,
Ðầu đàn đi sai lạc,
Cả đàn đều đi sai,
Vì hướng dẫn sai lạc.
Cũng vậy, trong loài Người,
Vị được xem tối thắng,
Nếu sở hành phi pháp,
Còn nói gì người khác,
Cả nước bị đau khổ,
Nếu vua sống phi pháp.
Khi đàn bò lội sông,
Ðầu đàn đi đúng hướng,
Cả đàn đều đúng hướng,
Vì hướng dẫn đúng đường.
Cũng vậy trong loài Người,
Vị được xem tối thắng,
Nếu sở hành đúng pháp,
Còn nói gì người khác,
Cả nước được an vui,
Nếu vua sống đúng pháp.
“Yasmiṁ, bhikkhave, samaye rājāno adhammikā honti, rājāyuttāpi tasmiṁ samaye adhammikā honti.
Rājāyuttesu adhammikesu brāhmaṇagahapatikāpi tasmiṁ samaye adhammikā honti.
Brāhmaṇagahapatikesu adhammikesu negamajānapadāpi tasmiṁ samaye adhammikā honti.
Negamajānapadesu adhammikesu visamaṁ candimasūriyā parivattanti.
Visamaṁ candimasūriyesu parivattantesu visamaṁ nakkhattāni tārakarūpāni parivattanti.
Visamaṁ nakkhattesu tārakarūpesu parivattantesu visamaṁ rattindivā parivattanti.
Visamaṁ rattindivesu parivattantesu visamaṁ māsaddhamāsā parivattanti.
Visamaṁ māsaddhamāsesu parivattantesu visamaṁ utusaṁvaccharā parivattanti.
Visamaṁ utusaṁvaccharesu parivattantesu visamaṁ vātā vāyanti visamā apañjasā.
Visamaṁ vātesu vāyantesu visamesu apañjasesu devatā parikupitā bhavanti.
Devatāsu parikupitāsu devo na sammā dhāraṁ anuppavecchati.
Deve na sammā dhāraṁ anuppavecchante visamapākāni sassāni bhavanti.
Visamapākāni, bhikkhave, sassāni manussā paribhuñjantā appāyukā honti dubbaṇṇā ca bavhābādhā ca.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye rājāno dhammikā honti, rājāyuttāpi tasmiṁ samaye dhammikā honti.
Rājāyuttesu dhammikesu brāhmaṇagahapatikāpi tasmiṁ samaye dhammikā honti.
Brāhmaṇagahapatikesu dhammikesu negamajānapadāpi tasmiṁ samaye dhammikā honti.
Negamajānapadesu dhammikesu samaṁ candimasūriyā parivattanti.
Samaṁ candimasūriyesu parivattantesu samaṁ nakkhattāni tārakarūpāni parivattanti.
Samaṁ nakkhattesu tārakarūpesu parivattantesu samaṁ rattindivā parivattanti.
Samaṁ rattindivesu parivattantesu samaṁ māsaddhamāsā parivattanti.
Samaṁ māsaddhamāsesu parivattantesu samaṁ utusaṁvaccharā parivattanti.
Samaṁ utusaṁvaccharesu parivattantesu samaṁ vātā vāyanti samā pañjasā.
Samaṁ vātesu vāyantesu samesu pañjasesu devatā aparikupitā bhavanti.
Devatāsu aparikupitāsu devo sammā dhāraṁ anuppavecchati.
Deve sammā dhāraṁ anuppavecchante samapākāni sassāni bhavanti.
Samapākāni, bhikkhave, sassāni manussā paribhuñjantā dīghāyukā ca honti vaṇṇavanto ca balavanto ca appābādhā cāti.
Gunnañce taramānānaṁ,
jimhaṁ gacchati puṅgavo;
Sabbā tā jimhaṁ gacchanti,
nette jimhaṁ gate sati.
Evamevaṁ manussesu,
yo hoti seṭṭhasammato;
So ce adhammaṁ carati,
pageva itarā pajā;
Sabbaṁ raṭṭhaṁ dukkhaṁ seti,
rājā ce hoti adhammiko.
Gunnañce taramānānaṁ,
ujuṁ gacchati puṅgavo;
Sabbā tā ujuṁ gacchanti,
nette ujuṁ gate sati.
Evamevaṁ manussesu,
yo hoti seṭṭhasammato;
So sace dhammaṁ carati,
pageva itarā pajā;
Sabbaṁ raṭṭhaṁ sukhaṁ seti,
rājā ce hoti dhammiko”ti.
Dasamaṁ.
Pattakammavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Pattakammaṁ ānaṇyako,
Sabrahmanirayā rūpena pañcamaṁ;
Sarāgaahirājā devadatto,
Padhānaṁ adhammikena cāti.
“At a time when kings are unprincipled, royal officials become unprincipled.
When royal officials are unprincipled, brahmins and householders become unprincipled.
When brahmins and householders are unprincipled, the people of town and country become unprincipled.
When the people of town and country are unprincipled, the courses of the moon and sun become erratic.
… the courses of the stars and constellations …
the days and nights …
the months and fortnights …
the seasons and years become erratic.
… the blowing of the winds becomes erratic and chaotic.
… the deities are angered.
… the heavens don’t provide enough rain.
… the crops ripen erratically.
When people eat crops that have ripened erratically, they become short-lived, ugly, weak, and sickly.
At a time when kings are principled, royal officials become principled.
… brahmins and householders …
people of town and country become principled.
When the people of town and country are principled, the courses of the sun and moon become regular.
… the stars and constellations …
the days and nights …
the months and fortnights …
the seasons and years become regular.
… the blowing of the winds becomes regular and orderly.
… the deities are not angered …
… the heavens provide plenty of rain.
When the heavens provide plenty of rain, the crops ripen well.
When people eat crops that have ripened well, they become long-lived, beautiful, strong, and healthy.
When cattle cross a river,
if the bull goes off course,
they all go off course,
because their leader is off course.
So it is for humans:
when the one deemed chief
behaves badly,
what do you expect the rest to do?
The whole country sleeps badly,
when the king is unprincipled.
When cattle cross a river,
if the bull goes straight,
they all go straight,
because their leader is straight.
So it is for humans:
when the one deemed chief
does the right thing,
what do you expect the rest to do?
The whole country sleeps at ease,
when the king is just.”
TTC 1—Khi nào, này các Tỷ-kheo, các vua phi pháp có mặt, khi ấy, các đại thần phi pháp của vua có mặt. Khi nào các đại thần phi pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt. Khi nào các Bà-la-môn gia chủ phi pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở thành phi pháp. Khi nào dân chúng thị thành và ở các làng là phi pháp, khi ấy mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo. Khi nào mặt trăng, mặt trời đi sai quỹ đạo, khi ấy các dãy ngân hà, các loại sao đi sai quỹ đạo. Khi nào các dãy ngân hà, các loại sao đi sai quỹ đạo, khi ấy ngày đêm đi sai quỹ đạo. Khi nào ngày đêm đi sai quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo. Khi nào tháng và nửa tháng đi sai quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi sai quỹ đạo. Khi nào thời tiết và năm đi sai quỹ đạo, khi ấy gió thổi sai lạc trái mùa. Khi nào gió thổi sai lạc trái mùa, khi ấy chư Thiên bực mình. Khi nào chư Thiên bực mình, khi ấy trời mưa không có điều hòa. Khi nào trời mưa không có điều hòa, khi ấy lúa chín trái mùa. Này các Tỷ-kheo, khi nào lúa chín trái mùa, khi ấy các loài Người nuôi sống với loại lúa ấy, thì thọ mạng sẽ ngắn, dung sắc xấu, yếu sức và nhiều bệnh.
TTC 2Khi nào, này các Tỷ-kheo, các vua đúng pháp có mặt, thì khi ấy các vị đại thần đúng pháp của vua có mặt. Khi nào các vị đại thần đúng pháp của vua có mặt, khi ấy các Bà-la-môn gia chủ đúng pháp có mặt. Khi nào các Bà-la-môn gia chủ đúng pháp có mặt, khi ấy dân chúng thị thành và dân chúng các làng trở thành đúng pháp. Khi nào dân chúng thị thành và ở các làng là đúng pháp, khi ấy mặt trăng, mặt trời đi đúng quỹ đạo. Khi nào mặt trăng, mặt trời đi đúng quỹ đạo, khi ấy các dãy ngân hà, các loại sao đi đúng quỹ đạo. Khi nào các dãy ngân hà, các loại sao đi đúng quỹ đạo, khi ấy ngày đêm đi đúng quỹ đạo. Khi nào ngày đêm đi đúng quỹ đạo, khi ấy tháng và nửa tháng đi đúng quỹ đạo. Khi nào tháng và nửa tháng đi đúng quỹ đạo, khi ấy thời tiết và năm đi đúng quỹ đạo. Khi nào thời tiết và năm đi đúng quỹ đạo, khi ấy gió thổi đúng mùa. Khi nào gió thổi đúng mùa, khi ấy chư Thiên hoan hỉ. Khi nào chư Thiên hoan hỉ, khi ấy trời mưa điều hòa. Khi nào trời trở mưa điều hòa, khi ấy, lúa chín đúng mùa. Này các Tỷ-kheo, khi nào lúa chín đúng mùa, khi ấy loài Người nuôi sống với loại lúa ấy, thọ mạng sẽ lâu dài, dung sắc đẹp đẽ, có sức mạnh và không có nhiều bệnh.
Khi đàn bò lội sông,
Ðầu đàn đi sai lạc,
Cả đàn đều đi sai,
Vì hướng dẫn sai lạc.
Cũng vậy, trong loài Người,
Vị được xem tối thắng,
Nếu sở hành phi pháp,
Còn nói gì người khác,
Cả nước bị đau khổ,
Nếu vua sống phi pháp.
Khi đàn bò lội sông,
Ðầu đàn đi đúng hướng,
Cả đàn đều đúng hướng,
Vì hướng dẫn đúng đường.
Cũng vậy trong loài Người,
Vị được xem tối thắng,
Nếu sở hành đúng pháp,
Còn nói gì người khác,
Cả nước được an vui,
Nếu vua sống đúng pháp.
“Yasmiṁ, bhikkhave, samaye rājāno adhammikā honti, rājāyuttāpi tasmiṁ samaye adhammikā honti.
Rājāyuttesu adhammikesu brāhmaṇagahapatikāpi tasmiṁ samaye adhammikā honti.
Brāhmaṇagahapatikesu adhammikesu negamajānapadāpi tasmiṁ samaye adhammikā honti.
Negamajānapadesu adhammikesu visamaṁ candimasūriyā parivattanti.
Visamaṁ candimasūriyesu parivattantesu visamaṁ nakkhattāni tārakarūpāni parivattanti.
Visamaṁ nakkhattesu tārakarūpesu parivattantesu visamaṁ rattindivā parivattanti.
Visamaṁ rattindivesu parivattantesu visamaṁ māsaddhamāsā parivattanti.
Visamaṁ māsaddhamāsesu parivattantesu visamaṁ utusaṁvaccharā parivattanti.
Visamaṁ utusaṁvaccharesu parivattantesu visamaṁ vātā vāyanti visamā apañjasā.
Visamaṁ vātesu vāyantesu visamesu apañjasesu devatā parikupitā bhavanti.
Devatāsu parikupitāsu devo na sammā dhāraṁ anuppavecchati.
Deve na sammā dhāraṁ anuppavecchante visamapākāni sassāni bhavanti.
Visamapākāni, bhikkhave, sassāni manussā paribhuñjantā appāyukā honti dubbaṇṇā ca bavhābādhā ca.
Yasmiṁ, bhikkhave, samaye rājāno dhammikā honti, rājāyuttāpi tasmiṁ samaye dhammikā honti.
Rājāyuttesu dhammikesu brāhmaṇagahapatikāpi tasmiṁ samaye dhammikā honti.
Brāhmaṇagahapatikesu dhammikesu negamajānapadāpi tasmiṁ samaye dhammikā honti.
Negamajānapadesu dhammikesu samaṁ candimasūriyā parivattanti.
Samaṁ candimasūriyesu parivattantesu samaṁ nakkhattāni tārakarūpāni parivattanti.
Samaṁ nakkhattesu tārakarūpesu parivattantesu samaṁ rattindivā parivattanti.
Samaṁ rattindivesu parivattantesu samaṁ māsaddhamāsā parivattanti.
Samaṁ māsaddhamāsesu parivattantesu samaṁ utusaṁvaccharā parivattanti.
Samaṁ utusaṁvaccharesu parivattantesu samaṁ vātā vāyanti samā pañjasā.
Samaṁ vātesu vāyantesu samesu pañjasesu devatā aparikupitā bhavanti.
Devatāsu aparikupitāsu devo sammā dhāraṁ anuppavecchati.
Deve sammā dhāraṁ anuppavecchante samapākāni sassāni bhavanti.
Samapākāni, bhikkhave, sassāni manussā paribhuñjantā dīghāyukā ca honti vaṇṇavanto ca balavanto ca appābādhā cāti.
Gunnañce taramānānaṁ,
jimhaṁ gacchati puṅgavo;
Sabbā tā jimhaṁ gacchanti,
nette jimhaṁ gate sati.
Evamevaṁ manussesu,
yo hoti seṭṭhasammato;
So ce adhammaṁ carati,
pageva itarā pajā;
Sabbaṁ raṭṭhaṁ dukkhaṁ seti,
rājā ce hoti adhammiko.
Gunnañce taramānānaṁ,
ujuṁ gacchati puṅgavo;
Sabbā tā ujuṁ gacchanti,
nette ujuṁ gate sati.
Evamevaṁ manussesu,
yo hoti seṭṭhasammato;
So sace dhammaṁ carati,
pageva itarā pajā;
Sabbaṁ raṭṭhaṁ sukhaṁ seti,
rājā ce hoti dhammiko”ti.
Dasamaṁ.
Pattakammavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Pattakammaṁ ānaṇyako,
Sabrahmanirayā rūpena pañcamaṁ;
Sarāgaahirājā devadatto,
Padhānaṁ adhammikena cāti.