TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anathapindika. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Magasàlà bạch Tôn giả Ananda:
TTC 2—Thưa Tôn giả Ananada, như thế nào cần phải hiểu pháp được Thế Tôn thuyết giảng, rằng người sống phạm hạnh và người sống không phạm hạnh, cả hai sẽ đồng một chỗ thọ sanh trong đời sau? Thưa Tôn giả, phụ thân con Puràna sống phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Vị ấy, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất lai, sanh với thân ở Tusita”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất lai, sanh với thân ở Tusita”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”?
—Này Chị, chính như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.
TTC 3Rồi Tôn giả Ananda, sau khi nhận đồ khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Magasàlà thưa với con:
—“Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai.”?. “Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống phạm hạnh, sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita.” Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”? Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà:
—“Này Chị, chính như vậy là câu trả lời của Thế Tôn”.
—Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người.
Này Ananda, có mười hạng người, có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là mười?
TTC 4Ở đây, này Ananda, có hạng người ác giới, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người ấy được diệt trừ, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạnh chung, hướng về thối đọa, không về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 5Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người ác giới, như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy có nghe pháp, có học nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa.
Ở đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo như sau: “Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao, giữa hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù thắng?”. Nhận xét như vậy đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây này Ananda, người này là ác giới và như vậy rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở nơi đây, ác giới ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Với vị ấy, có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này, so sánh với hạng người trước là vi diệu hơn, là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố cho mình là người đi làm sự đo lường các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 6Ở đây, này Ananda, có hạng người có giới nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được đoạn diệt, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, nên không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không huớng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 7Nhưng ở đây này Ananda, có hạng người có giới và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy có nghe pháp, có học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, vị ấy chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa. Chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 8Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có tham rất sắc sảo, người ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, tham ấy của người ấy được trừ diệt, không có tàn dư. Người này không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không có chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 9Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có tham rất sắc sảo, người ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, ở đây, lòng tham ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy nghe pháp, học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân họai mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 10Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người phẫn nộ, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của người ấy được trừ diệt trừ, không có tàn dư. Vị ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 11Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có phẫn nộ và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy lại nghe pháp, học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 12Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có trạo cử, nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 13Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có trạo cử, và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có tàn dư. Và vị này có nghe pháp, có học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không hướng về thối đọa. Ở đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo lường như sau: “Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao giữa hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù diệu? “ Nhận xét như vậy, đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây, này Ananda, người này là trạo cử, và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Và vị ấy có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này so sánh với hạng người trước, là vi diệu hơn, là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố cho mình là người làm sự đo lường các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người?
Này Ananda, có mười hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thể thiếu sót một chi phần.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho migasālā upāsikā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho migasālā upāsikā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ.
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā.
So kālaṅkato bhagavatā byākato: ‘sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapanno’ti.
Pitāmaho me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho.
Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato: ‘sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapanno’ti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan”ti?
“Evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan”ti.
Atha kho āyasmā ānando migasālāya upāsikāya nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ānando pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ.
Atha kho, bhante, migasālā upāsikā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho, bhante, migasālā upāsikā maṁ etadavoca:
‘Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ.
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā.
So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Pitāmaho me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho.
Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato—sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, migasālaṁ upāsikaṁ etadavocaṁ:
‘evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan’”ti.
“Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariye ñāṇe?
Dasayime, ānanda, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame dasa?
Idhānanda, ekacco puggalo dussīlo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo dussīlo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti:
‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā nesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti?
Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo dussīlo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Taṁ kissa hetu?
Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati.
Tadantaraṁ ko jāneyya, aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha,
mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha.
Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto.
Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekacco puggalo sīlavā hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa taṁ sīlaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo sīlavā hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ sīlaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekacco puggalo tibbarāgo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa so rāgo apariseso nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo tibbarāgo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa so rāgo apariseso nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekacco puggalo kodhano hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa so kodho apariseso nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo kodhano hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa so kodho apariseso nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekacco puggalo uddhato hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo uddhato hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti:
‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā nesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti?
Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo uddhato hoti tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati,
tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Taṁ kissa hetu?
Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati.
Tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha;
mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha.
Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto.
Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariye ñāṇe.
Ime kho, ānanda, dasa puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Yathārūpena, ānanda, sīlena purāṇo samannāgato ahosi tathārūpena sīlena isidatto samannāgato abhavissa, nayidha purāṇo isidattassa gatimpi aññassa.
Yathārūpāya cānanda, paññāya isidatto samannāgato ahosi tathārūpāya paññāya purāṇo samannāgato abhavissa, nayidha isidatto purāṇassa gatimpi aññassa.
Iti kho, ānanda, ime puggalā ubho ekaṅgahīnā”ti.
Pañcamaṁ.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the laywoman Migasālā, where he sat on the seat spread out.
Then the laywoman Migasālā went up to Ānanda, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Honorable Ānanda, how on earth are we supposed to understand the teaching taught by the Buddha, when the chaste and the unchaste are both reborn in exactly the same place in the next life?
My father Purāṇa was chaste, set apart, avoiding the vulgar act of sex.
When he passed away the Buddha declared that, since he was a once-returner, he was reborn in the host of joyful gods.
But my uncle Isidatta was not chaste; he lived content with his wife.
When he passed away the Buddha also declared that, since he was a once-returner, he was reborn in the host of joyful gods.
How on earth are we supposed to understand the teaching taught by the Buddha, when the chaste and the unchaste are both reborn in exactly the same place in the next life?”
“You’re right, sister, but that’s how the Buddha declared it.”
Then Ānanda, after receiving almsfood at Migasālā’s home, rose from his seat and left.
Then after the meal, on his return from almsround, Ānanda went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
“Ānanda, who is this laywoman Migasālā, a foolish incompetent aunty, with an aunty’s wit? And who is it that knows how to assess individual persons?
These ten individuals are found in the world.
What ten?
Take a certain individual who is unethical.
And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that unethical conduct ceases without anything left over.
And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher.
They’re going to a lower place, not a higher.
Take a certain individual who is unethical.
But they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that unethical conduct ceases without anything left over.
And they have listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower.
They’re going to a higher place, not a lower.
Judgmental people compare them, saying:
‘This one has just the same qualities as the other, so why is one worse and one better?’
This will be for their lasting harm and suffering.
In this case, the individual who is unethical,
but truly understands the freedom of heart …
and has listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom
is better and finer than the other individual.
Why is that?
Because the stream of the teaching carries them along.
But who knows the difference between them except a Realized One?
So, Ānanda, don’t be judgmental about individuals.
Don’t pass judgment on individuals.
Those who pass judgment on individuals harm themselves.
I, or someone like me, may pass judgment on people.
Take a certain individual who is ethical.
But they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that ethical conduct ceases without anything left over.
And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher.
They’re going to a lower place, not a higher.
Take a certain individual who is ethical.
And they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that ethical conduct ceases without anything left over.
And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower.
They’re going to a higher place, not a lower.
Judgmental people compare them …
I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Take a certain individual who is very lustful.
And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that lust ceases without anything left over.
And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher.
They’re going to a lower place, not a higher.
Take a certain individual who is very lustful.
But they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that lust ceases without anything left over.
And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower.
They’re going to a higher place, not a lower.
Judgmental people compare them …
I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Take a certain individual who is irritable.
And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that anger ceases without anything left over.
And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher.
They’re going to a lower place, not a higher.
Take a certain individual who is irritable.
But they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that anger ceases without anything left over.
And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower.
They’re going to a higher place, not a lower.
Judgmental people compare them …
I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Take a certain individual who is restless.
And they don’t truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that restlessness ceases without anything left over.
And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher.
They’re going to a lower place, not a higher.
Take a certain individual who is restless.
But they truly understand the freedom of heart and freedom by wisdom where that restlessness ceases without anything left over.
And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower.
They’re going to a higher place, not a lower.
Judgmental people compare them, saying:
‘This one has just the same qualities as the other, so why is one worse and one better?’
This will be for their lasting harm and suffering.
In this case the individual who is restless, but truly understands the freedom of heart …
and has listened and learned and penetrated theoretically and found at least temporary freedom
is better and finer than the other individual.
Why is that?
Because the stream of the teaching carries them along.
But who knows the difference between them except a Realized One?
So, Ānanda, don’t be judgmental about individuals.
Don’t pass judgment on individuals.
Those who pass judgment on individuals harm themselves.
I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Who is this laywoman Migasālā, a foolish incompetent aunty, with an aunty’s wit? And who is it that knows how to assess individual persons?
These ten individuals are found in the world.
If Isidatta had achieved Purāṇa’s level of ethical conduct, Purāṇa could not have even known Isidatta’s destination.
And if Purāṇa had achieved Isidatta’s level of wisdom, Isidatta could not have even known Purāṇa’s destination.
So both individuals were lacking in one respect.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anathapindika. Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Magasàlà bạch Tôn giả Ananda:
TTC 2—Thưa Tôn giả Ananada, như thế nào cần phải hiểu pháp được Thế Tôn thuyết giảng, rằng người sống phạm hạnh và người sống không phạm hạnh, cả hai sẽ đồng một chỗ thọ sanh trong đời sau? Thưa Tôn giả, phụ thân con Puràna sống phạm hạnh, sống viễn ly, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Vị ấy, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất lai, sanh với thân ở Tusita”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất lai, sanh với thân ở Tusita”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”?
—Này Chị, chính như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.
TTC 3Rồi Tôn giả Ananda, sau khi nhận đồ khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Magasàlà thưa với con:
—“Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai.”?. “Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống phạm hạnh, sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Nhất Lai, sanh với thân ở Tusita.” Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai, sống phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”? Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà:
—“Này Chị, chính như vậy là câu trả lời của Thế Tôn”.
—Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người.
Này Ananda, có mười hạng người, có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là mười?
TTC 4Ở đây, này Ananda, có hạng người ác giới, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người ấy được diệt trừ, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạnh chung, hướng về thối đọa, không về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 5Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người ác giới, như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, ác giới ấy của người được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy có nghe pháp, có học nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa.
Ở đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo như sau: “Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao, giữa hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù thắng?”. Nhận xét như vậy đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây này Ananda, người này là ác giới và như vậy rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở nơi đây, ác giới ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Với vị ấy, có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này, so sánh với hạng người trước là vi diệu hơn, là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố cho mình là người đi làm sự đo lường các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 6Ở đây, này Ananda, có hạng người có giới nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được đoạn diệt, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, nên không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không huớng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 7Nhưng ở đây này Ananda, có hạng người có giới và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, giới ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy có nghe pháp, có học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, vị ấy chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa. Chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 8Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có tham rất sắc sảo, người ấy không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, tham ấy của người ấy được trừ diệt, không có tàn dư. Người này không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không có chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 9Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có tham rất sắc sảo, người ấy như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, ở đây, lòng tham ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy nghe pháp, học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân họai mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 10Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người phẫn nộ, không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của người ấy được trừ diệt trừ, không có tàn dư. Vị ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 11Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có phẫn nộ và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, lòng phẫn nộ ấy của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Vị ấy lại nghe pháp, học hỏi nhiều, và khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, này Ananda… Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
TTC 12Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có trạo cử, nhưng không như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Người ấy không có nghe pháp, không có học hỏi nhiều, không có thể nhập với chánh kiến, không chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 13Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người có trạo cử, và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy; ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có tàn dư. Và vị này có nghe pháp, có học hỏi nhiều, khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không hướng về thối đọa. Ở đây, này Ananda, ai là người đo lường, đo lường như sau: “Những pháp ấy có mặt trong người này, những pháp ấy cũng có mặt trong người kia. Vì sao giữa hai người ấy, một là hạ liệt, một là thù diệu? “ Nhận xét như vậy, đem lại đau khổ lâu dài cho họ. Ở đây, này Ananda, người này là trạo cử, và như thật rõ biết tâm giải thoát, tuệ giải thoát ấy, chính ở đây, trạo cử của người ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Và vị ấy có nghe pháp, có học hỏi nhiều, có khéo thể nhập với chánh kiến, chứng được nhất thời giải thoát. Này Ananda, hạng người này so sánh với hạng người trước, là vi diệu hơn, là thù thắng hơn. Vì sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có làm sự đo lường các hạng người. Tự đào hố cho mình là người làm sự đo lường các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể làm sự đo lường các hạng người. Ai có thể được như Ta?
Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người?
Này Ananda, có mười hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy, ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thể thiếu sót một chi phần.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho migasālā upāsikā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho migasālā upāsikā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ.
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī hoti ārācārī virato methunā gāmadhammā.
So kālaṅkato bhagavatā byākato: ‘sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapanno’ti.
Pitāmaho me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho.
Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato: ‘sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapanno’ti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan”ti?
“Evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan”ti.
Atha kho āyasmā ānando migasālāya upāsikāya nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ānando pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ.
Atha kho, bhante, migasālā upāsikā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho, bhante, migasālā upāsikā maṁ etadavoca:
‘Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ.
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā.
So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Pitāmaho me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho.
Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato—sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, migasālaṁ upāsikaṁ etadavocaṁ:
‘evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan’”ti.
“Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariye ñāṇe?
Dasayime, ānanda, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame dasa?
Idhānanda, ekacco puggalo dussīlo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti, yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo dussīlo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti:
‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā nesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti?
Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo dussīlo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ dussilyaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Taṁ kissa hetu?
Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati.
Tadantaraṁ ko jāneyya, aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha,
mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha.
Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto.
Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekacco puggalo sīlavā hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa taṁ sīlaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo sīlavā hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ sīlaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekacco puggalo tibbarāgo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa so rāgo apariseso nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo tibbarāgo hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa so rāgo apariseso nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekacco puggalo kodhano hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa so kodho apariseso nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo kodhano hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa so kodho apariseso nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekacco puggalo uddhato hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ nappajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti, no visesāya;
hānagāmīyeva hoti, no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo uddhato hoti.
Tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti, no hānāya;
visesagāmīyeva hoti, no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti:
‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā nesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti?
Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo uddhato hoti tañca cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ yathābhūtaṁ pajānāti yatthassa taṁ uddhaccaṁ aparisesaṁ nirujjhati,
tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Taṁ kissa hetu?
Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati.
Tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha;
mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha.
Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto.
Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ yo vā panassa mādiso.
Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariye ñāṇe.
Ime kho, ānanda, dasa puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Yathārūpena, ānanda, sīlena purāṇo samannāgato ahosi tathārūpena sīlena isidatto samannāgato abhavissa, nayidha purāṇo isidattassa gatimpi aññassa.
Yathārūpāya cānanda, paññāya isidatto samannāgato ahosi tathārūpāya paññāya purāṇo samannāgato abhavissa, nayidha isidatto purāṇassa gatimpi aññassa.
Iti kho, ānanda, ime puggalā ubho ekaṅgahīnā”ti.
Pañcamaṁ.