TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Nàtika, tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
TTC 3Ðược nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.
—Này các Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 4Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này các Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 5Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 6Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn một phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 7Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 8Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 9Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 10Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 11Ðược nghe nói như vậy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”.
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”… Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải tu học như sau: “Hãy sống không phóng dật. Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết, để đoạn diệt các lậu hoặc”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“maraṇassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā amatogadhā amatapariyosānā.
Bhāvetha no tumhe, bhikkhave, maraṇassatin”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahaṁ kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ divasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ upaḍḍhadivasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ upaḍḍhapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ cattāro pañca ālope saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ assasitvā vā passasāmi, passasitvā vā assasāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā te bhikkhū etadavoca:
“yvāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ divasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti;
yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ upaḍḍhadivasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti;
yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ upaḍḍhapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ cattāro pañca ālope saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti—
ime vuccanti, bhikkhave, ‘bhikkhū pamattā viharanti, dandhaṁ maraṇassatiṁ bhāventi āsavānaṁ khayāya’.
Yo ca khvāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ assasitvā vā passasāmi, passasitvā vā assasāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti—
ime vuccanti, bhikkhave, ‘bhikkhū appamattā viharanti, tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāventi āsavānaṁ khayāya’.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘appamattā viharissāma, tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāvayissāma āsavānaṁ khayāyā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Tatiyaṁ.
At one time the Buddha was staying at Ñātika in the brick house.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, when mindfulness of death is developed and cultivated it’s very fruitful and beneficial. It has freedom from death as its objective and culmination.
But do you develop mindfulness of death?”
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha,
“Sir, I develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
‘Oh, if I’d only live for another day and night, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’
That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha,
“Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
‘Oh, if I’d only live for another day, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’
That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha,
“Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
‘Oh, if I’d only live for half a day, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’
That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha,
“Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
‘Oh, if I’d only live as long as it takes to eat a single almsmeal, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’
That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha,
“Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
‘Oh, if I’d only live as long as it takes to eat half an almsmeal, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’
That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha,
“Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
‘Oh, if I’d only live as long as it takes to chew and swallow four or five mouthfuls, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’
That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha,
“Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
‘Oh, if I’d only live as long as it takes to chew and swallow a single mouthful, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’
That’s how I develop mindfulness of death.”
Another mendicant said to the Buddha,
“Sir, I too develop mindfulness of death.”
“But mendicant, how do you develop it?”
“In this case, sir, I think:
‘Oh, if I’d only live as long as it takes to breathe out after breathing in, or to breathe in after breathing out, I’d focus on the Buddha’s instructions and I could really achieve a lot.’
That’s how I develop mindfulness of death.”
When this was said, the Buddha said to those mendicants:
“The mendicants who develop mindfulness of death by wishing
to live for a day and night …
or to live for a day …
or to live for half a day …
or to live as long as it takes to eat a meal of almsfood …
or to live as long as it takes to eat half a meal of almsfood …
or to live as long as it takes to chew and swallow four or five mouthfuls …
These are called mendicants who live negligently. They slackly develop mindfulness of death for the ending of defilements.
But the mendicants who develop mindfulness of death by wishing
to live as long as it takes to chew and swallow a single mouthful …
or to live as long as it takes to breathe out after breathing in, or to breathe in after breathing out …
These are called mendicants who live diligently. They keenly develop mindfulness of death for the ending of defilements.
So you should train like this:
‘We will live diligently. We will keenly develop mindfulness of death for the ending of defilements.’
That’s how you should train.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Nàtika, tại Ginjakàvasatha. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Niệm chết, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy tu tập niệm chết.
TTC 3Ðược nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con có tu tập niệm chết.
—Này các Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 4Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này các Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 5Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 6Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn một phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 7Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 8Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 9Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Mong rằng, cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 10Một Tỷ-kheo khác bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập niệm chết.
—Này Tỷ-kheo, Thầy tu tập niệm chết như thế nào?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: “Cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn”. Con đã làm nhiều như vậy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con tu tập niệm chết.
TTC 11Ðược nghe nói như vậy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống ngày và đêm, tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”.
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng ta sống trọn nửa ngày tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn nửa phần đồ ăn khất thực, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn và nuốt bốn, năm miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”… Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo này tu tập niệm chết như sau: “Mong rằng cho đến khi nào khi thở vào, ta thở ra, hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn. Ta đã làm nhiều như vậy”. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là những vị sống không phóng dật, tu tập rất sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải tu học như sau: “Hãy sống không phóng dật. Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết, để đoạn diệt các lậu hoặc”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“maraṇassati, bhikkhave, bhāvitā bahulīkatā mahapphalā hoti mahānisaṁsā amatogadhā amatapariyosānā.
Bhāvetha no tumhe, bhikkhave, maraṇassatin”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahaṁ kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ divasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ upaḍḍhadivasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ upaḍḍhapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ cattāro pañca ālope saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Aññataropi kho bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“ahampi kho, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
“Yathā kathaṁ pana tvaṁ, bhikkhu, bhāvesi maraṇassatin”ti?
“Idha mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ assasitvā vā passasāmi, passasitvā vā assasāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhāvemi maraṇassatin”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā te bhikkhū etadavoca:
“yvāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ rattindivaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ divasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti;
yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ upaḍḍhadivasaṁ jīveyyaṁ, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti;
yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ upaḍḍhapiṇḍapātaṁ bhuñjāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ cattāro pañca ālope saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti—
ime vuccanti, bhikkhave, ‘bhikkhū pamattā viharanti, dandhaṁ maraṇassatiṁ bhāventi āsavānaṁ khayāya’.
Yo ca khvāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ ekaṁ ālopaṁ saṅkhāditvā ajjhoharāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti.
Yo cāyaṁ, bhikkhave, bhikkhu evaṁ maraṇassatiṁ bhāveti:
‘aho vatāhaṁ tadantaraṁ jīveyyaṁ yadantaraṁ assasitvā vā passasāmi, passasitvā vā assasāmi, bhagavato sāsanaṁ manasi kareyyaṁ, bahu vata me kataṁ assā’ti—
ime vuccanti, bhikkhave, ‘bhikkhū appamattā viharanti, tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāventi āsavānaṁ khayāya’.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘appamattā viharissāma, tikkhaṁ maraṇassatiṁ bhāvayissāma āsavānaṁ khayāyā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Tatiyaṁ.