TTC 1Ở đây, Tôn giả Mahàmoggallàna gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàmoggallàna. Tôn giả Mahàmoggallàna nói như sau:
TTC 2—Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo nói lên chánh trí: “Tôi rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Rồi Như Lai hay đệ tử Như Lai, là vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy bị Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trong trống rỗng (sa mạc), rơi vào trong rối ren (rừng rậm), rơi vào trong bế tắc, rơi vào trong bất hạnh, rơi vào trong bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm mình tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này nói lên chánh trí: “Tôi rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.”? “ Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm mình biết rõ tâm người ấy như sau: “Có phẫn nộ là Tôn giả này, sống nhiều với tâm bị phẫn nộ thấm nhuần. Với tâm bị phẫn nộ thấm nhuần, nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Có hiềm hận là Tôn giả này… có gièm pha là Tôn giả này… có não hại là Tôn giả này… có tật đố là Tôn giả này… có xan tham là Tôn giả này… có lừa đảo là Tôn giả này… có man trá là Tôn giả này… có ác dục là Tôn giả này… có thất niệm là Tôn giả này… Dầu cho còn nhiều việc (cao thượng hơn) cần phải làm thêm, tuy có chứng được thù thắng nhưng chỉ là phần nhỏ lại đứng lại giữa đường; đứng lại giữa đường này nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.”
TTC 3Tỷ-kheo ấy, chư Hiền, do không đoạn tận mười pháp này, đi đến được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, do đoạn tận mười pháp này, đi đến được tăng trưởng lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
Tatra kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“Idhāvuso, bhikkhu aññaṁ byākaroti:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo samanuyuñjati samanuggāhati samanubhāsati.
So tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā jhāyinā samāpattikusalena paracittakusalena paracittapariyāyakusalena samanuyuñjiyamāno samanuggāhiyamāno samanubhāsiyamāno irīṇaṁ āpajjati vicinaṁ āpajjati anayaṁ āpajjati byasanaṁ āpajjati anayabyasanaṁ āpajjati.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca manasi karoti:
‘kiṁ nu kho ayamāyasmā aññaṁ byākaroti—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti?
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca pajānāti:
‘Kodhano kho ayamāyasmā;
kodhapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Kodhapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Upanāhī kho pana ayamāyasmā;
upanāhapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Upanāhapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Makkhī kho pana ayamāyasmā;
makkhapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Makkhapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Paḷāsī kho pana ayamāyasmā;
paḷāsapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Paḷāsapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Issukī kho pana ayamāyasmā;
issāpariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Issāpariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Maccharī kho pana ayamāyasmā;
maccherapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Maccherapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Saṭho kho pana ayamāyasmā;
sāṭheyyapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Sāṭheyyapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Māyāvī kho pana ayamāyasmā;
māyāpariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Māyāpariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Pāpiccho kho pana ayamāyasmā;
icchāpariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Icchāpariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Sati kho pana ayamāyasmā uttari karaṇīye oramattakena visesādhigamena antarā vosānaṁ āpanno.
Antarā vosānagamanaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ’.
So vatāvuso, bhikkhu ‘ime dasa dhamme appahāya imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatī’ti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vatāvuso, bhikkhu ‘ime dasa dhamme pahāya imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatī’ti ṭhānametaṁ vijjatī”ti.
Catutthaṁ.
There Venerable Mahāmoggallāna addressed the mendicants:
“Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied.
Venerable Mahāmoggallāna said this:
“Take a mendicant who declares enlightenment:
‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’
They’re pursued, pressed, and grilled by the Realized One, or by one of his disciples who is a meditator skilled in attainments, in the minds of others, and in encompassing another’s mind.
Grilled in this way they get stuck or lose their way. They fall to ruin and disaster.
The Realized One or one of his disciples encompasss their mind and investigates:
‘Why does this venerable declare enlightenment, saying:
“I understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’?”’
They understand:
‘This venerable gets irritable,
and often lives with a heart full of anger.
But being full of anger means decline in the teaching and training proclaimed by the Realized One.
This venerable is acrimonious …
prone to disdain …
contemptuous …
jealous …
stingy …
devious …
deceitful …
This venerable has corrupt wishes,
and often lives with a heart full of desire.
But being full of desire means decline in the teaching and training proclaimed by the Realized One.
When there is still more to be done, this venerable stopped half-way after achieving some trifling distinction.
But stopping half-way means decline in the teaching and training proclaimed by the Realized One.’
It is quite impossible for a mendicant to achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training without giving up these ten qualities.
It is quite possible for a mendicant to achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training after giving up these ten qualities.”
TTC 1Ở đây, Tôn giả Mahàmoggallàna gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàmoggallàna. Tôn giả Mahàmoggallàna nói như sau:
TTC 2—Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo nói lên chánh trí: “Tôi rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Rồi Như Lai hay đệ tử Như Lai, là vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy bị Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trong trống rỗng (sa mạc), rơi vào trong rối ren (rừng rậm), rơi vào trong bế tắc, rơi vào trong bất hạnh, rơi vào trong bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm mình tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này nói lên chánh trí: “Tôi rõ biết rằng: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.”? “ Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm mình biết rõ tâm người ấy như sau: “Có phẫn nộ là Tôn giả này, sống nhiều với tâm bị phẫn nộ thấm nhuần. Với tâm bị phẫn nộ thấm nhuần, nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Có hiềm hận là Tôn giả này… có gièm pha là Tôn giả này… có não hại là Tôn giả này… có tật đố là Tôn giả này… có xan tham là Tôn giả này… có lừa đảo là Tôn giả này… có man trá là Tôn giả này… có ác dục là Tôn giả này… có thất niệm là Tôn giả này… Dầu cho còn nhiều việc (cao thượng hơn) cần phải làm thêm, tuy có chứng được thù thắng nhưng chỉ là phần nhỏ lại đứng lại giữa đường; đứng lại giữa đường này nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.”
TTC 3Tỷ-kheo ấy, chư Hiền, do không đoạn tận mười pháp này, đi đến được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, do đoạn tận mười pháp này, đi đến được tăng trưởng lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
Tatra kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
“Idhāvuso, bhikkhu aññaṁ byākaroti:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo samanuyuñjati samanuggāhati samanubhāsati.
So tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā jhāyinā samāpattikusalena paracittakusalena paracittapariyāyakusalena samanuyuñjiyamāno samanuggāhiyamāno samanubhāsiyamāno irīṇaṁ āpajjati vicinaṁ āpajjati anayaṁ āpajjati byasanaṁ āpajjati anayabyasanaṁ āpajjati.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca manasi karoti:
‘kiṁ nu kho ayamāyasmā aññaṁ byākaroti—
khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī’ti?
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca pajānāti:
‘Kodhano kho ayamāyasmā;
kodhapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Kodhapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Upanāhī kho pana ayamāyasmā;
upanāhapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Upanāhapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Makkhī kho pana ayamāyasmā;
makkhapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Makkhapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Paḷāsī kho pana ayamāyasmā;
paḷāsapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Paḷāsapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Issukī kho pana ayamāyasmā;
issāpariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Issāpariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Maccharī kho pana ayamāyasmā;
maccherapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Maccherapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Saṭho kho pana ayamāyasmā;
sāṭheyyapariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Sāṭheyyapariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Māyāvī kho pana ayamāyasmā;
māyāpariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Māyāpariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Pāpiccho kho pana ayamāyasmā;
icchāpariyuṭṭhitena cetasā bahulaṁ viharati.
Icchāpariyuṭṭhānaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Sati kho pana ayamāyasmā uttari karaṇīye oramattakena visesādhigamena antarā vosānaṁ āpanno.
Antarā vosānagamanaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ’.
So vatāvuso, bhikkhu ‘ime dasa dhamme appahāya imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatī’ti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vatāvuso, bhikkhu ‘ime dasa dhamme pahāya imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatī’ti ṭhānametaṁ vijjatī”ti.
Catutthaṁ.