TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana vườn Nai
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Thế Tôn, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, gần cây sung, chỗ cột đàn bò, thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Thế Tôn liền nói với vị Tỷ-kheo ấy:
—Này Tỷ-kheo, này Tỷ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỷ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra.
TTC 2Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới như vậy, cảm thấy xúc động mạnh. Rồi Thế Tôn, sau khi đi khất thực ở Ba-la-nại xong, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, ở đây, sau khi đắp y vào buổi sáng, Ta cầm lấy y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Này các Tỷ-kheo, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, Ta thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Ta liền nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, này Tỷ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỷ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng: “Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra”.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được ta giáo giới với lời giáo giới này, cảm thấy xúc động mạnh.
TTC 3Khi nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, thối nát cái gì, mùi hôi thối cái gì, các loài ruồi lằng là gì?
—Tham cầu, này các Tỷ-kheo, là thối nát; sân là mùi hôi thối, các suy tầm ác bất thiện là ruồi lằng. Này các Tỷ-kheo, ai làm cho các tự ngã thối nát, đầy ứ, thoát ra mùi hôi thối, rồi mong rằng: “Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không chiếm cứ”, sự kiện như vậy không xảy ra.
Tai mắt không giữ gìn
Các căn không phòng hộ
Ruồi lằng sẽ bu đậu
Các tư duy tham ái
Tỷ-kheo làm thối nát
Ðầy ứ những mùi hôi
Xa thay là Niết-bàn!
Chịu phần về bất hạnh
Tại làng hay trong rừng
Tự ngã không an tịnh
Kẻ ngu và không trí
Ði đứng đầy ruồi lằng
Ai đầy đủ giới luật
Thích tịch tịnh trí tuệ
Sống an tịnh hạnh phúc
Mọi ruồi lằng diệt trừ
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya bārāṇasiṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho bhagavā goyogapilakkhasmiṁ piṇḍāya caramāno aññataraṁ bhikkhuṁ rittassādaṁ bāhirassādaṁ muṭṭhassatiṁ asampajānaṁ asamāhitaṁ vibbhantacittaṁ pākatindriyaṁ.
Disvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“Mā kho tvaṁ, bhikkhu, attānaṁ kaṭuviyamakāsi.
Taṁ vata, bhikkhu, kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Atha kho so bhikkhu bhagavatā iminā ovādena ovadito saṁvegamāpādi.
Atha kho bhagavā bārāṇasiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto bhikkhū āmantesi:
“Idhāhaṁ, bhikkhave, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya bārāṇasiṁ piṇḍāya pāvisiṁ.
Addasaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, goyogapilakkhasmiṁ piṇḍāya caramāno aññataraṁ bhikkhuṁ rittassādaṁ bāhirassādaṁ muṭṭhassatiṁ asampajānaṁ asamāhitaṁ vibbhantacittaṁ pākatindriyaṁ.
Disvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘Mā kho tvaṁ, bhikkhu, attānaṁ kaṭuviyamakāsi.
Taṁ vata bhikkhu kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti.
Atha kho, bhikkhave, so bhikkhu mayā iminā ovādena ovadito saṁvegamāpādī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante, kaṭuviyaṁ?
Ko āmagandho?
Kā makkhikā”ti?
“Abhijjhā kho, bhikkhu, kaṭuviyaṁ;
byāpādo āmagandho;
pāpakā akusalā vitakkā makkhikā.
Taṁ vata, bhikkhu, kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatīti.
Aguttaṁ cakkhusotasmiṁ,
indriyesu asaṁvutaṁ;
Makkhikānupatissanti,
saṅkappā rāganissitā.
Kaṭuviyakato bhikkhu,
āmagandhe avassuto;
Ārakā hoti nibbānā,
vighātasseva bhāgavā.
Gāme vā yadi vāraññe,
aladdhā samathamattano;
Pareti bālo dummedho,
makkhikāhi purakkhato.
Ye ca sīlena sampannā,
paññāyūpasameratā;
Upasantā sukhaṁ senti,
nāsayitvāna makkhikā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
I have heard that on one occasion the Blessed One was staying at Varanasi in the Game Refuge at Isipatana. Then early in the morning the Blessed One, having put on his robes and carrying his bowl & outer robe, went into Varanasi for alms. As he was walking for alms near the fig-tree at the cattle yoke, he saw a certain monk whose delight was in what is empty, whose delight was in exterior things, his mindfulness muddled, his alertness lacking, his concentration lacking, his mind gone astray, his faculties uncontrolled. On seeing him, the Blessed One said to him: “Monk, monk, don’t let yourself putrefy! On one who lets himself putrefy & stink with the stench of carrion, there’s no way that flies won’t swarm & attack!”
Then the monk—admonished with this, the Blessed One’s admonishment—came to his senses.
So the Blessed One, having gone for alms in Varanasi, after the meal, returning from his alms round, addressed the monks [and told them what had happened].
When this was said, a certain monk said to the Blessed One, “What, lord, is putrefaction? What is the stench of carrion? What are flies?”
“Greed, monk, is putrefaction. Ill will is the stench of carrion. Evil, unskillful thoughts are flies. On one who lets himself putrefy & stink with the stench of carrion, there’s no way that flies won’t swarm & attack.
“On one whose eyes & ears are unguarded,
whose senses are unrestrained,
flies swarm: resolves dependent on passion.
The monk who is putrid,
who stinks of the stench of carrion,
is far from Unbinding.
His share is vexation.
Whether he stays in village or wilderness,
having gained for himself no tranquillity,
he’s surrounded by flies.
But those who are consummate in virtue,
who delight in discernment & calm,
pacified, they sleep in ease.
No flies settle on them.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Bàrànasi, tại Isipatana vườn Nai
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Thế Tôn, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, gần cây sung, chỗ cột đàn bò, thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Thế Tôn liền nói với vị Tỷ-kheo ấy:
—Này Tỷ-kheo, này Tỷ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỷ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra.
TTC 2Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới như vậy, cảm thấy xúc động mạnh. Rồi Thế Tôn, sau khi đi khất thực ở Ba-la-nại xong, sau bữa ăn, sau khi đi khất thực trở về, bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, ở đây, sau khi đắp y vào buổi sáng, Ta cầm lấy y bát, đi vào Ba-la-nại để khất thực. Này các Tỷ-kheo, trong khi đi khất thực tại Goyogapilakkha, Ta thấy một Tỷ-kheo hưởng thọ hương vị trống không, không có Thiền định, hưởng thọ hương vị hướng ngoại của vật dục, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, với tâm tán loạn, với các căn phóng túng. Thấy vậy, Ta liền nói với vị Tỷ-kheo ấy: “Này Tỷ-kheo, này Tỷ-kheo! Thầy chớ có làm cho tự ngã trở thành thối nát. Này Tỷ-kheo, ai làm cho tự ngã thối nát đầy ứ, thoát ra toàn mùi hôi thối, rồi mong rằng: “Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không có chiếm cứ, sự kiện như vậy không xảy ra”.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được ta giáo giới với lời giáo giới này, cảm thấy xúc động mạnh.
TTC 3Khi nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, thối nát cái gì, mùi hôi thối cái gì, các loài ruồi lằng là gì?
—Tham cầu, này các Tỷ-kheo, là thối nát; sân là mùi hôi thối, các suy tầm ác bất thiện là ruồi lằng. Này các Tỷ-kheo, ai làm cho các tự ngã thối nát, đầy ứ, thoát ra mùi hôi thối, rồi mong rằng: “Các loài ruồi lằng sẽ không bu đậu, sẽ không chiếm cứ”, sự kiện như vậy không xảy ra.
Tai mắt không giữ gìn
Các căn không phòng hộ
Ruồi lằng sẽ bu đậu
Các tư duy tham ái
Tỷ-kheo làm thối nát
Ðầy ứ những mùi hôi
Xa thay là Niết-bàn!
Chịu phần về bất hạnh
Tại làng hay trong rừng
Tự ngã không an tịnh
Kẻ ngu và không trí
Ði đứng đầy ruồi lằng
Ai đầy đủ giới luật
Thích tịch tịnh trí tuệ
Sống an tịnh hạnh phúc
Mọi ruồi lằng diệt trừ
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya bārāṇasiṁ piṇḍāya pāvisi.
Addasā kho bhagavā goyogapilakkhasmiṁ piṇḍāya caramāno aññataraṁ bhikkhuṁ rittassādaṁ bāhirassādaṁ muṭṭhassatiṁ asampajānaṁ asamāhitaṁ vibbhantacittaṁ pākatindriyaṁ.
Disvā taṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“Mā kho tvaṁ, bhikkhu, attānaṁ kaṭuviyamakāsi.
Taṁ vata, bhikkhu, kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Atha kho so bhikkhu bhagavatā iminā ovādena ovadito saṁvegamāpādi.
Atha kho bhagavā bārāṇasiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto bhikkhū āmantesi:
“Idhāhaṁ, bhikkhave, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya bārāṇasiṁ piṇḍāya pāvisiṁ.
Addasaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, goyogapilakkhasmiṁ piṇḍāya caramāno aññataraṁ bhikkhuṁ rittassādaṁ bāhirassādaṁ muṭṭhassatiṁ asampajānaṁ asamāhitaṁ vibbhantacittaṁ pākatindriyaṁ.
Disvā taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘Mā kho tvaṁ, bhikkhu, attānaṁ kaṭuviyamakāsi.
Taṁ vata bhikkhu kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti.
Atha kho, bhikkhave, so bhikkhu mayā iminā ovādena ovadito saṁvegamāpādī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bhante, kaṭuviyaṁ?
Ko āmagandho?
Kā makkhikā”ti?
“Abhijjhā kho, bhikkhu, kaṭuviyaṁ;
byāpādo āmagandho;
pāpakā akusalā vitakkā makkhikā.
Taṁ vata, bhikkhu, kaṭuviyakataṁ attānaṁ āmagandhena avassutaṁ makkhikā nānupatissanti nānvāssavissantīti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatīti.
Aguttaṁ cakkhusotasmiṁ,
indriyesu asaṁvutaṁ;
Makkhikānupatissanti,
saṅkappā rāganissitā.
Kaṭuviyakato bhikkhu,
āmagandhe avassuto;
Ārakā hoti nibbānā,
vighātasseva bhāgavā.
Gāme vā yadi vāraññe,
aladdhā samathamattano;
Pareti bālo dummedho,
makkhikāhi purakkhato.
Ye ca sīlena sampannā,
paññāyūpasameratā;
Upasantā sukhaṁ senti,
nāsayitvāna makkhikā”ti.
Chaṭṭhaṁ.