TTC 1—Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là hai? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Chuyển Luân Vương. Những người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.
TTC 2Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là sự xuất hiện của những người vi diệu. Thế nào là hai? Như Lai và Chuyển Luân Vương. Những người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là sự xuất hiện của những người vi diệu.
TTC 3Có hai hạng người khi mệnh chung, này các Tỷ-kheo, đưa lại thương tiếc cho đa số. Thế nào là hai? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Chuyển Luân Vương. Hai hạng người này khi mạng chung, này các Tỷ-kheo, đưa lại thương tiếc cho đa số.
TTC 4Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xứng đáng để xây tháp. Thế nào là hai? Như Lai và Chuyển Luân Vương. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xứng đáng để xây tháp.
TTC 5Có hai bậc Giác ngộ này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, và Ðộc Giác Phật. Những vị này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc Giác ngộ.
TTC 6Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ hãi. Thế nào là hai? Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc và con voi thuần chủng. Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ hãi.
TTC 7Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ hãi. Thế nào là hai? Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc và con ngựa nòi giống tốt. Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ hãi.
TTC 8… (như trên, chỉ thay vào “Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc và con sư tử, vua các loài thú”) …
TTC 9Do thấy hai lý do này, này các Tỷ-kheo, các loài Kimpurisà (phi nhân, khẩn-na-la) không nói lên tiếng người. Thế nào là hai? “Chúng ta chớ có nói láo và chúng ta chớ có xuyên tạc người khác với điều không thật”. Do thấy hai lý do này, này các Tỷ-kheo, các loài Kimpurisà không nói lên tiếng người.
TTC 10Có hai điều, này các Tỷ-kheo, người phụ nữ khi lâm chung chưa được thỏa mãn, chưa được vừa đủ. Thế nào là hai? Sự giao cấu và sanh con. Hai điều này, này các Tỷ-kheo, người phụ nữ khi lâm chung chưa được thỏa mãn, chưa được vừa đủ.
TTC 11Ta sẽ giảng cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, về sự cộng trú của người bất thiện và sự cộng trú của người thiện. Hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự cộng trú của người bất thiện và thế nào là người bất thiện cộng trú với nhau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị trưởng lão Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Mong rằng vị trưởng lão không nói với ta, vị trung niên không nói với ta, vị tân học không nói với ta, và ta cũng không nói với vị trưởng lão, ta cũng không nói với vị trung niên, ta cũng không nói với vị tân học! Nếu vị trưởng lão nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn làm hại ta, không phải vì hạnh phúc cho ta. Ta hãy nói “không” với vị ấy, ta hãy làm cho vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta không có đáp ứng thích hợp. Nếu vị trung niên nói với ta, … Nếu vị tân học nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn làm hại ta, không phải vì hạnh phúc cho ta. Ta hãy nói “không” với vị ấy, ta hãy làm cho vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta không có đáp ứng thích hợp”. Vị trung niên Tỷ-kheo suy nghĩ như sau … vị tân học Tỷ-kheo suy nghĩ như sau … . Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự cộng trú của người bất thiện và như vậy là người bất thiện cộng trú với nhau.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự cộng trú của người thiện và thế nào là người thiện cộng trú với nhau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị trưởng lão Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Mong rằng vị trưởng lão nói với ta, vị trung niên nói với ta, vị tân học nói với ta. Ta cũng sẽ nói với vị trưởng lão, cũng sẽ nói với vị trung niên, cũng sẽ nói với vị tân học! Nếu vị trưởng lão nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn hạnh phúc cho ta, không với ý muốn làm hại ta, ta sẽ nói “lành thay” với vị ấy, ta sẽ không làm cho vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta có đáp ứng thích hợp. Nếu vị trung niên nói với ta, … Nếu vị tân học nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn hạnh phúc cho ta, không với ý muốn làm hại ta. Ta sẽ nói “lành thay” với vị ấy, ta sẽ không làm vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta sẽ đáp ứng thích hợp”.
Này các Tỷ-kheo, vị trung niên Tỷ-kheo suy nghĩ như sau …
Này các Tỷ-kheo, vị tân học Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Mong rằng vị trưởng lão nói với ta, vị trung niên nói với ta, vị tân học nói với ta…., và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta sẽ đáp ứng thích hợp”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự cộng trú của người thiện và như vậy là người thiện cộng trú với nhau.
TTC 12Trong cuộc tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, cả hai phía có lời qua tiếng lại, có những quan điểm ngoan cố, với tâm hiềm hận, ưu não, uất ức, nội tâm không an tịnh, thời sự tranh tụng ấy, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng sẽ đưa đến kéo dài, gay gắt, thô bạo, và các Tỷ-kheo sẽ sống không an lạc.
Và này các Tỷ-kheo, trong cuộc tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, cả hai phía có lời qua tiếng lại, có những quan điểm ngoan cố, với tâm hiềm hận, ưu não, uất ức, nhưng nội tâm được an tịnh, thời sự tranh tụng ấy, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng sẽ không kéo dài, không có gay cấn, không có thô bạo, và các Tỷ-kheo sẽ sống an lạc.
52
“Dveme, bhikkhave, puggalā loke uppajjamānā uppajjanti bahujanahitāya bahujanasukhāya, bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Katame dve?
Tathāgato ca arahaṁ sammāsambuddho, rājā ca cakkavattī.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā loke uppajjamānā uppajjanti bahujanahitāya bahujanasukhāya, bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
53
“Dveme, bhikkhave, puggalā loke uppajjamānā uppajjanti acchariyamanussā.
Katame dve?
Tathāgato ca arahaṁ sammāsambuddho, rājā ca cakkavattī.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā loke uppajjamānā uppajjanti acchariyamanussā”ti.
54
“Dvinnaṁ, bhikkhave, puggalānaṁ kālakiriyā bahuno janassa anutappā hoti.
Katamesaṁ dvinnaṁ?
Tathāgatassa ca arahato sammāsambuddhassa, rañño ca cakkavattissa.
Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ puggalānaṁ kālakiriyā bahuno janassa anutappā hotī”ti.
55
“Dveme, bhikkhave, thūpārahā.
Katame dve?
Tathāgato ca arahaṁ sammāsambuddho, rājā ca cakkavattī.
Ime kho, bhikkhave, dve thūpārahā”ti.
56
“Dveme, bhikkhave, buddhā.
Katame dve?
Tathāgato ca arahaṁ sammāsambuddho, paccekabuddho ca.
Ime kho, bhikkhave, dve buddhā”ti.
57
“Dveme, bhikkhave, asaniyā phalantiyā na santasanti.
Katame dve?
Bhikkhu ca khīṇāsavo, hatthājānīyo ca.
Ime kho, bhikkhave, dve asaniyā phalantiyā na santasantī”ti.
58
“Dveme, bhikkhave, asaniyā phalantiyā na santasanti.
Katame dve?
Bhikkhu ca khīṇāsavo, assājānīyo ca.
Ime kho, bhikkhave, dve asaniyā phalantiyā na santasantī”ti.
59
“Dveme, bhikkhave, asaniyā phalantiyā na santasanti.
Katame dve?
Bhikkhu ca khīṇāsavo, sīho ca migarājā.
Ime kho, bhikkhave, dve asaniyā phalantiyā na santasantī”ti.
60
“Dveme, bhikkhave, atthavase sampassamānā kiṁpurisā mānusiṁ vācaṁ na bhāsanti.
Katame dve?
Mā ca musā bhaṇimhā, mā ca paraṁ abhūtena abbhācikkhimhāti.
Ime kho, bhikkhave, dve atthavase sampassamānā kiṁpurisā mānusiṁ vācaṁ na bhāsantī”ti.
61
“Dvinnaṁ dhammānaṁ, bhikkhave, atitto appaṭivāno mātugāmo kālaṁ karoti.
Katamesaṁ dvinnaṁ?
Methunasamāpattiyā ca vijāyanassa ca.
Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ dhammānaṁ atitto appaṭivāno mātugāmo kālaṁ karotī”ti.
62
“Asantasannivāsañca vo, bhikkhave, desessāmi santasannivāsañca.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Kathañca, bhikkhave, asantasannivāso hoti, kathañca asanto sannivasanti?
Idha, bhikkhave, therassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘theropi maṁ na vadeyya, majjhimopi maṁ na vadeyya, navopi maṁ na vadeyya;
therampāhaṁ na vadeyyaṁ, majjhimampāhaṁ na vadeyyaṁ, navampāhaṁ na vadeyyaṁ.
Thero cepi maṁ vadeyya ahitānukampī maṁ vadeyya no hitānukampī, noti naṁ vadeyyaṁ viheṭheyyaṁ passampissa nappaṭikareyyaṁ.
Majjhimo cepi maṁ vadeyya …pe… navo cepi maṁ vadeyya, ahitānukampī maṁ vadeyya no hitānukampī, noti naṁ vadeyyaṁ viheṭheyyaṁ passampissa nappaṭikareyyaṁ’.
Majjhimassapi bhikkhuno evaṁ hoti …pe… navassapi bhikkhuno evaṁ hoti:
‘theropi maṁ na vadeyya, majjhimopi maṁ na vadeyya, navopi maṁ na vadeyya;
therampāhaṁ na vadeyyaṁ, majjhimampāhaṁ na vadeyyaṁ, navampāhaṁ na vadeyyaṁ.
Thero cepi maṁ vadeyya ahitānukampī maṁ vadeyya no hitānukampī noti naṁ vadeyyaṁ viheṭheyyaṁ passampissa nappaṭikareyyaṁ.
Majjhimo cepi maṁ vadeyya … navo cepi maṁ vadeyya ahitānukampī maṁ vadeyya no hitānukampī, noti naṁ vadeyyaṁ viheṭheyyaṁ passampissa nappaṭikareyyaṁ’.
Evaṁ kho, bhikkhave, asantasannivāso hoti, evañca asanto sannivasanti.
Kathañca, bhikkhave, santasannivāso hoti, kathañca santo sannivasanti?
Idha, bhikkhave, therassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘theropi maṁ vadeyya, majjhimopi maṁ vadeyya, navopi maṁ vadeyya;
therampāhaṁ vadeyyaṁ, majjhimampāhaṁ vadeyyaṁ, navampāhaṁ vadeyyaṁ.
Thero cepi maṁ vadeyya hitānukampī maṁ vadeyya no ahitānukampī, sādhūti naṁ vadeyyaṁ na naṁ viheṭheyyaṁ passampissa paṭikareyyaṁ.
Majjhimo cepi maṁ vadeyya …pe… navo cepi maṁ vadeyya hitānukampī maṁ vadeyya no ahitānukampī, sādhūti naṁ vadeyyaṁ na naṁ viheṭheyyaṁ passampissa paṭikareyyaṁ’.
Majjhimassapi bhikkhuno evaṁ hoti …pe… navassapi bhikkhuno evaṁ hoti:
‘theropi maṁ vadeyya, majjhimopi maṁ vadeyya, navopi maṁ vadeyya;
therampāhaṁ vadeyyaṁ, majjhimampāhaṁ vadeyyaṁ, navampāhaṁ vadeyyaṁ.
Thero cepi maṁ vadeyya hitānukampī maṁ vadeyya no ahitānukampī, sādhūti naṁ vadeyyaṁ na naṁ viheṭheyyaṁ passampissa paṭikareyyaṁ.
Majjhimo cepi maṁ vadeyya …pe… navo cepi maṁ vadeyya hitānukampī maṁ vadeyya no ahitānukampī, sādhūti naṁ vadeyyaṁ na naṁ viheṭheyyaṁ passampissa paṭikareyyaṁ’.
Evaṁ kho, bhikkhave, santasannivāso hoti, evañca santo sannivasantī”ti.
63
“Yasmiṁ, bhikkhave, adhikaraṇe ubhato vacīsaṁsāro diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi ajjhattaṁ avūpasantaṁ hoti, tasmetaṁ, bhikkhave, adhikaraṇe pāṭikaṅkhaṁ:
‘dīghattāya kharattāya vāḷattāya saṁvattissati, bhikkhū ca na phāsuṁ viharissanti’.
Yasmiñca kho, bhikkhave, adhikaraṇe ubhato vacīsaṁsāro diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi ajjhattaṁ suvūpasantaṁ hoti, tasmetaṁ, bhikkhave, adhikaraṇe pāṭikaṅkhaṁ:
‘na dīghattāya kharattāya vāḷattāya saṁvattissati, bhikkhū ca phāsuṁ viharissantī’”ti.
Puggalavaggo paṭhamo.
52
“These two individuals, mendicants, arise in the world for the welfare and happiness of the people, for the people, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.
What two?
The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha; and the wheel-turning monarch.
These are the two individuals who arise in the world for the welfare and happiness of the people, for the people, for the benefit, welfare, and happiness of gods and humans.”
53
“These two individuals, mendicants, arise in the world who are incredible human beings.
What two?
The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha; and the wheel-turning monarch.
These are the two individuals who arise in the world who are incredible human beings.”
54
“There are two individuals, mendicants, whose death is regretted by many people.
What two?
The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha; and the wheel-turning monarch.
These are the two individuals, mendicants, whose death is regretted by many people.”
55
“Mendicants, these two are worthy of a monument.
What two?
The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha; and the wheel-turning monarch.
These are the two who are worthy of a monument.”
56
“Mendicants, there are two kinds of Buddhas.
What two?
The Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha; and an Independent Buddha.
These are the two kinds of Buddhas.”
57
“These two, mendicants, are not startled by a crack of thunder.
What two?
A mendicant who has ended defilements; and a thoroughbred elephant.
These are the two who are not startled by a crack of thunder.”
58
“These two, mendicants, are not startled by a crack of thunder.
What two?
A mendicant who has ended defilements; and a thoroughbred horse.
These are the two who are not startled by a crack of thunder.”
59
“These two, mendicants, are not startled by a crack of thunder.
What two?
A mendicant who has ended defilements; and a lion, king of beasts.
These are the two who are not startled by a crack of thunder.”
60
“Aborigines see two reasons not to use regular speech.
What two?
Thinking: ‘May we not lie, and may we not misrepresent others with falsehoods.’
Aborigines see these two reasons not to use regular speech.”
61
“Mendicants, ladies die without getting enough of two things.
What two?
Sexual intercourse and giving birth.
Females die without getting enough of these two things.”
62
“Mendicants, I will teach you about living with bad people and living with good people.
Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” they replied.
The Buddha said this:
“What is it like living with bad people? How do bad people live together?
It’s when a senior mendicant thinks:
‘No mendicant, whether senior, middle, or junior, should admonish me;
and I shouldn’t admonish any mendicant, whether senior, middle, or junior.
If a mendicant—whether senior, middle, or junior—were to admonish me, they wouldn’t be sympathetic, and I’d bother them by saying “No!” And anyway I wouldn’t deal with it even if I saw what I did wrong.’
And a middle or a junior mendicant also thinks:
‘No mendicant, whether senior, middle, or junior, should admonish me;
and I shouldn’t admonish any mendicant, whether senior, middle, or junior.
If a mendicant—whether senior, middle, or junior—were to admonish me, they wouldn’t be sympathetic, and I’d bother them by saying “No!” And anyway I wouldn’t deal with it even if I saw what I did wrong.’
That’s what it’s like living with bad people; that’s how bad people live together.
What is it like living with good people? How do good people live together?
It’s when a senior mendicant thinks:
‘Any mendicant, whether senior, middle, or junior, should admonish me;
and I should admonish any mendicant, whether senior, middle, or junior.
If a mendicant—whether senior, middle, or junior—were to admonish me, they’d be sympathetic, so I wouldn’t bother them, but say “Thank you!” And I’d deal with it when I saw what I did wrong.’
And a middle or a junior mendicant also thinks:
‘Any mendicant, whether senior, middle, or junior, may admonish me;
and I’ll admonish any mendicant, whether senior, middle, or junior.
If a mendicant—whether senior, middle, or junior—were to admonish me, they’d be sympathetic, so I wouldn’t bother them, but say “Thank you!” And I’d deal with it when I saw what I did wrong.’
That’s what it’s like living with good people; that’s how good people live together.”
63
“In any disciplinary issue where on both sides the endless talk, contempt for each other’s views, resentment, bitterness, and exasperation is not settled, you can expect that this disciplinary issue
will lead to lasting acrimony and enmity, and the mendicants will not live comfortably.
In any disciplinary issue where on both sides the endless talk, contempt for each other’s views, resentment, bitterness, and exasperation is well settled, you can expect that this disciplinary issue
won’t lead to lasting acrimony and enmity, and the mendicants will live comfortably.”
TTC 1—Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người. Thế nào là hai? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Chuyển Luân Vương. Những người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đưa lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, đưa lại hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.
TTC 2Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là sự xuất hiện của những người vi diệu. Thế nào là hai? Như Lai và Chuyển Luân Vương. Những người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, là sự xuất hiện của những người vi diệu.
TTC 3Có hai hạng người khi mệnh chung, này các Tỷ-kheo, đưa lại thương tiếc cho đa số. Thế nào là hai? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Chuyển Luân Vương. Hai hạng người này khi mạng chung, này các Tỷ-kheo, đưa lại thương tiếc cho đa số.
TTC 4Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xứng đáng để xây tháp. Thế nào là hai? Như Lai và Chuyển Luân Vương. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xứng đáng để xây tháp.
TTC 5Có hai bậc Giác ngộ này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, và Ðộc Giác Phật. Những vị này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc Giác ngộ.
TTC 6Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ hãi. Thế nào là hai? Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc và con voi thuần chủng. Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ hãi.
TTC 7Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ hãi. Thế nào là hai? Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc và con ngựa nòi giống tốt. Hai (sanh) loại này, này các Tỷ-kheo, không bị sét đánh làm cho sợ hãi.
TTC 8… (như trên, chỉ thay vào “Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc và con sư tử, vua các loài thú”) …
TTC 9Do thấy hai lý do này, này các Tỷ-kheo, các loài Kimpurisà (phi nhân, khẩn-na-la) không nói lên tiếng người. Thế nào là hai? “Chúng ta chớ có nói láo và chúng ta chớ có xuyên tạc người khác với điều không thật”. Do thấy hai lý do này, này các Tỷ-kheo, các loài Kimpurisà không nói lên tiếng người.
TTC 10Có hai điều, này các Tỷ-kheo, người phụ nữ khi lâm chung chưa được thỏa mãn, chưa được vừa đủ. Thế nào là hai? Sự giao cấu và sanh con. Hai điều này, này các Tỷ-kheo, người phụ nữ khi lâm chung chưa được thỏa mãn, chưa được vừa đủ.
TTC 11Ta sẽ giảng cho các Thầy, này các Tỷ-kheo, về sự cộng trú của người bất thiện và sự cộng trú của người thiện. Hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:
—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự cộng trú của người bất thiện và thế nào là người bất thiện cộng trú với nhau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị trưởng lão Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Mong rằng vị trưởng lão không nói với ta, vị trung niên không nói với ta, vị tân học không nói với ta, và ta cũng không nói với vị trưởng lão, ta cũng không nói với vị trung niên, ta cũng không nói với vị tân học! Nếu vị trưởng lão nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn làm hại ta, không phải vì hạnh phúc cho ta. Ta hãy nói “không” với vị ấy, ta hãy làm cho vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta không có đáp ứng thích hợp. Nếu vị trung niên nói với ta, … Nếu vị tân học nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn làm hại ta, không phải vì hạnh phúc cho ta. Ta hãy nói “không” với vị ấy, ta hãy làm cho vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta không có đáp ứng thích hợp”. Vị trung niên Tỷ-kheo suy nghĩ như sau … vị tân học Tỷ-kheo suy nghĩ như sau … . Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự cộng trú của người bất thiện và như vậy là người bất thiện cộng trú với nhau.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự cộng trú của người thiện và thế nào là người thiện cộng trú với nhau? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị trưởng lão Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Mong rằng vị trưởng lão nói với ta, vị trung niên nói với ta, vị tân học nói với ta. Ta cũng sẽ nói với vị trưởng lão, cũng sẽ nói với vị trung niên, cũng sẽ nói với vị tân học! Nếu vị trưởng lão nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn hạnh phúc cho ta, không với ý muốn làm hại ta, ta sẽ nói “lành thay” với vị ấy, ta sẽ không làm cho vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta có đáp ứng thích hợp. Nếu vị trung niên nói với ta, … Nếu vị tân học nói với ta, vị ấy nói với ta với ý muốn hạnh phúc cho ta, không với ý muốn làm hại ta. Ta sẽ nói “lành thay” với vị ấy, ta sẽ không làm vị ấy phật lòng, và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta sẽ đáp ứng thích hợp”.
Này các Tỷ-kheo, vị trung niên Tỷ-kheo suy nghĩ như sau …
Này các Tỷ-kheo, vị tân học Tỷ-kheo suy nghĩ như sau: “Mong rằng vị trưởng lão nói với ta, vị trung niên nói với ta, vị tân học nói với ta…., và nếu thấy vị ấy nói đúng, ta sẽ đáp ứng thích hợp”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự cộng trú của người thiện và như vậy là người thiện cộng trú với nhau.
TTC 12Trong cuộc tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, cả hai phía có lời qua tiếng lại, có những quan điểm ngoan cố, với tâm hiềm hận, ưu não, uất ức, nội tâm không an tịnh, thời sự tranh tụng ấy, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng sẽ đưa đến kéo dài, gay gắt, thô bạo, và các Tỷ-kheo sẽ sống không an lạc.
Và này các Tỷ-kheo, trong cuộc tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, cả hai phía có lời qua tiếng lại, có những quan điểm ngoan cố, với tâm hiềm hận, ưu não, uất ức, nhưng nội tâm được an tịnh, thời sự tranh tụng ấy, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng sẽ không kéo dài, không có gay cấn, không có thô bạo, và các Tỷ-kheo sẽ sống an lạc.
52
“Dveme, bhikkhave, puggalā loke uppajjamānā uppajjanti bahujanahitāya bahujanasukhāya, bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Katame dve?
Tathāgato ca arahaṁ sammāsambuddho, rājā ca cakkavattī.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā loke uppajjamānā uppajjanti bahujanahitāya bahujanasukhāya, bahuno janassa atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
53
“Dveme, bhikkhave, puggalā loke uppajjamānā uppajjanti acchariyamanussā.
Katame dve?
Tathāgato ca arahaṁ sammāsambuddho, rājā ca cakkavattī.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā loke uppajjamānā uppajjanti acchariyamanussā”ti.
54
“Dvinnaṁ, bhikkhave, puggalānaṁ kālakiriyā bahuno janassa anutappā hoti.
Katamesaṁ dvinnaṁ?
Tathāgatassa ca arahato sammāsambuddhassa, rañño ca cakkavattissa.
Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ puggalānaṁ kālakiriyā bahuno janassa anutappā hotī”ti.
55
“Dveme, bhikkhave, thūpārahā.
Katame dve?
Tathāgato ca arahaṁ sammāsambuddho, rājā ca cakkavattī.
Ime kho, bhikkhave, dve thūpārahā”ti.
56
“Dveme, bhikkhave, buddhā.
Katame dve?
Tathāgato ca arahaṁ sammāsambuddho, paccekabuddho ca.
Ime kho, bhikkhave, dve buddhā”ti.
57
“Dveme, bhikkhave, asaniyā phalantiyā na santasanti.
Katame dve?
Bhikkhu ca khīṇāsavo, hatthājānīyo ca.
Ime kho, bhikkhave, dve asaniyā phalantiyā na santasantī”ti.
58
“Dveme, bhikkhave, asaniyā phalantiyā na santasanti.
Katame dve?
Bhikkhu ca khīṇāsavo, assājānīyo ca.
Ime kho, bhikkhave, dve asaniyā phalantiyā na santasantī”ti.
59
“Dveme, bhikkhave, asaniyā phalantiyā na santasanti.
Katame dve?
Bhikkhu ca khīṇāsavo, sīho ca migarājā.
Ime kho, bhikkhave, dve asaniyā phalantiyā na santasantī”ti.
60
“Dveme, bhikkhave, atthavase sampassamānā kiṁpurisā mānusiṁ vācaṁ na bhāsanti.
Katame dve?
Mā ca musā bhaṇimhā, mā ca paraṁ abhūtena abbhācikkhimhāti.
Ime kho, bhikkhave, dve atthavase sampassamānā kiṁpurisā mānusiṁ vācaṁ na bhāsantī”ti.
61
“Dvinnaṁ dhammānaṁ, bhikkhave, atitto appaṭivāno mātugāmo kālaṁ karoti.
Katamesaṁ dvinnaṁ?
Methunasamāpattiyā ca vijāyanassa ca.
Imesaṁ kho, bhikkhave, dvinnaṁ dhammānaṁ atitto appaṭivāno mātugāmo kālaṁ karotī”ti.
62
“Asantasannivāsañca vo, bhikkhave, desessāmi santasannivāsañca.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Kathañca, bhikkhave, asantasannivāso hoti, kathañca asanto sannivasanti?
Idha, bhikkhave, therassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘theropi maṁ na vadeyya, majjhimopi maṁ na vadeyya, navopi maṁ na vadeyya;
therampāhaṁ na vadeyyaṁ, majjhimampāhaṁ na vadeyyaṁ, navampāhaṁ na vadeyyaṁ.
Thero cepi maṁ vadeyya ahitānukampī maṁ vadeyya no hitānukampī, noti naṁ vadeyyaṁ viheṭheyyaṁ passampissa nappaṭikareyyaṁ.
Majjhimo cepi maṁ vadeyya …pe… navo cepi maṁ vadeyya, ahitānukampī maṁ vadeyya no hitānukampī, noti naṁ vadeyyaṁ viheṭheyyaṁ passampissa nappaṭikareyyaṁ’.
Majjhimassapi bhikkhuno evaṁ hoti …pe… navassapi bhikkhuno evaṁ hoti:
‘theropi maṁ na vadeyya, majjhimopi maṁ na vadeyya, navopi maṁ na vadeyya;
therampāhaṁ na vadeyyaṁ, majjhimampāhaṁ na vadeyyaṁ, navampāhaṁ na vadeyyaṁ.
Thero cepi maṁ vadeyya ahitānukampī maṁ vadeyya no hitānukampī noti naṁ vadeyyaṁ viheṭheyyaṁ passampissa nappaṭikareyyaṁ.
Majjhimo cepi maṁ vadeyya … navo cepi maṁ vadeyya ahitānukampī maṁ vadeyya no hitānukampī, noti naṁ vadeyyaṁ viheṭheyyaṁ passampissa nappaṭikareyyaṁ’.
Evaṁ kho, bhikkhave, asantasannivāso hoti, evañca asanto sannivasanti.
Kathañca, bhikkhave, santasannivāso hoti, kathañca santo sannivasanti?
Idha, bhikkhave, therassa bhikkhuno evaṁ hoti:
‘theropi maṁ vadeyya, majjhimopi maṁ vadeyya, navopi maṁ vadeyya;
therampāhaṁ vadeyyaṁ, majjhimampāhaṁ vadeyyaṁ, navampāhaṁ vadeyyaṁ.
Thero cepi maṁ vadeyya hitānukampī maṁ vadeyya no ahitānukampī, sādhūti naṁ vadeyyaṁ na naṁ viheṭheyyaṁ passampissa paṭikareyyaṁ.
Majjhimo cepi maṁ vadeyya …pe… navo cepi maṁ vadeyya hitānukampī maṁ vadeyya no ahitānukampī, sādhūti naṁ vadeyyaṁ na naṁ viheṭheyyaṁ passampissa paṭikareyyaṁ’.
Majjhimassapi bhikkhuno evaṁ hoti …pe… navassapi bhikkhuno evaṁ hoti:
‘theropi maṁ vadeyya, majjhimopi maṁ vadeyya, navopi maṁ vadeyya;
therampāhaṁ vadeyyaṁ, majjhimampāhaṁ vadeyyaṁ, navampāhaṁ vadeyyaṁ.
Thero cepi maṁ vadeyya hitānukampī maṁ vadeyya no ahitānukampī, sādhūti naṁ vadeyyaṁ na naṁ viheṭheyyaṁ passampissa paṭikareyyaṁ.
Majjhimo cepi maṁ vadeyya …pe… navo cepi maṁ vadeyya hitānukampī maṁ vadeyya no ahitānukampī, sādhūti naṁ vadeyyaṁ na naṁ viheṭheyyaṁ passampissa paṭikareyyaṁ’.
Evaṁ kho, bhikkhave, santasannivāso hoti, evañca santo sannivasantī”ti.
63
“Yasmiṁ, bhikkhave, adhikaraṇe ubhato vacīsaṁsāro diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi ajjhattaṁ avūpasantaṁ hoti, tasmetaṁ, bhikkhave, adhikaraṇe pāṭikaṅkhaṁ:
‘dīghattāya kharattāya vāḷattāya saṁvattissati, bhikkhū ca na phāsuṁ viharissanti’.
Yasmiñca kho, bhikkhave, adhikaraṇe ubhato vacīsaṁsāro diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi ajjhattaṁ suvūpasantaṁ hoti, tasmetaṁ, bhikkhave, adhikaraṇe pāṭikaṅkhaṁ:
‘na dīghattāya kharattāya vāḷattāya saṁvattissati, bhikkhū ca phāsuṁ viharissantī’”ti.
Puggalavaggo paṭhamo.