TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kusanàrà, trong khóm rừng Baliharana. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác sau khi quán sát nội trú thân năm pháp, sau khi khiến năm pháp an trú nội thân, rồi hãy buộc tội người khác. Thế nào là năm pháp cần phải quán sát nội thân?
TTC 3Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, trong khi buộc tội người khác, cần quán sát như sau: “Ta có thân hành thanh tịnh hay không? Ta có thành tựu thân hành thanh tịnh không có sứt mẻ, không có uế nhiễm hay không? Ta có pháp này hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thân hành không có thanh tịnh, không thành tựu thân hành thanh tịnh, có sứt mẻ, có uế nhiễm, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về thân”. Như vậy các Tỷ-kheo nói với vị ấy.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có khẩu hành thanh tịnh hay không? Ta có thành tựu khẩu hành thanh tịnh không có sứt mẻ, không có uế nhiễm hay không? Ta có pháp này hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khẩu hành không có thanh tịnh, không có thành tựu khẩu hành thanh tịnh, không có sứt mẻ, không có uế nhiễm, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về lời”. Như vậy, các Tỷ-kheo nói với vị ấy.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có an lập từ tâm, không sân hận đối với các đồng Phạm hạnh hay không? Trong ta có pháp ấy hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không an lập từ tâm, sân hận đối với các đồng Phạm hạnh, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy an lập từ tâm đối với các vị đồng Phạm hạnh”. Như vậy, các Tỷ-kheo nói với vị ấy.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có phải là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe hay không? Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, ta có nghe nhiều, có thọ trì, có tụng đọc bằng lời, có suy tư với ý, được khéo thể nhập với chánh kiến không? Pháp ấy có nơi ta hay không?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không phải là vị nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh; các pháp ấy, vị ấy không có nghe nhiều, không có thọ trì, không có tụng đọc bằng lời, không có suy tư với ý, không khéo thể nhập với chánh kiến, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về Agama (A-hàm) đi”. Như vậy, các Tỷ-kheo nói với vị ấy.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người, hãy quán sát như sau: “Cả hai bộ giới bổn Pàtimokkha, ta có khéo truyền đạt một cách rộng rãi, khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết hay không?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không khéo truyền đạt một cách rộng rãi về hai bộ giới bổn Pàtimokkha, không khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết thì: “Thưa Tôn giả, vấn đề này được Thế Tôn nói tại chỗ nào?”, được hỏi như vậy, vị ấy không có thể trả lời. Người ta sẽ nói về vị ấy như sau: “Mong rằng Tôn giả hãy học tập về luật”. Như vậy, có người sẽ nói với vị ấy.
Năm pháp này, cần phải tự quán sát về nội thân.
TTC 8Năm pháp nào cần phải an trú nội tâm?
TTC 9“Ta nói đúng thời, không phải phi thời; ta nói đúng sự thật, không phải không đúng sự thật; ta nói lời nhu hòa, không phải nói lời thô bạo; ta nói lời liên hệ đến mục đích, không phải lời không liên hệ đến mục đích; ta nói với tâm từ bi, không nói với tâm sân hận”.
Năm pháp này cần phải an trú nội tâm.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn buộc tội người khác, sau khi quán sát nội tâm về năm pháp này, sau khi an trú nội tâm về năm pháp này, hãy buộc tội người khác.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kusinārāyaṁ viharati baliharaṇe vanasaṇḍe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Codakena, bhikkhave, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo.
Katame pañca dhammā ajjhattaṁ paccavekkhitabbā?
Codakena, bhikkhave, bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘parisuddhakāyasamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi kāyasamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhu parisuddhakāyasamācāro hoti parisuddhena kāyasamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena, tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā kāyikaṁ sikkhassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘parisuddhavacīsamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi vacīsamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhu parisuddhavacīsamācāro hoti parisuddhena vacīsamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena, tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā vācasikaṁ sikkhassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘mettaṁ nu kho me cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ sabrahmacārīsu anāghātaṁ.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu anāghātaṁ, tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā sabrahmacārīsu mettaṁ cittaṁ upaṭṭhāpehī’ti, itissa bhavanti vattāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘bahussuto nu khomhi sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpā me dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā āgamaṁ pariyāpuṇassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘ubhayāni kho pana me pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhuno ubhayāni pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso, ‘idaṁ panāyasmā, kattha vuttaṁ bhagavatā’ti, iti puṭṭho na sampāyissati.
Tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā vinayaṁ sikkhassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
Ime pañca dhammā ajjhattaṁ paccavekkhitabbā.
Katame pañca dhammā ajjhattaṁ upaṭṭhāpetabbā?
‘Kālena vakkhāmi, no akālena;
bhūtena vakkhāmi, no abhūtena;
saṇhena vakkhāmi, no pharusena;
atthasaṁhitena vakkhāmi, no anatthasaṁhitena;
mettacitto vakkhāmi, no dosantaro’ti—
ime pañca dhammā ajjhattaṁ upaṭṭhāpetabbā.
Codakena, bhikkhave, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo”ti.
Catutthaṁ.
At one time the Buddha was staying near Kusinārā, in the Forest of Offerings.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, a mendicant who wants to accuse another should first check five things in themselves and establish five things in themselves.
What five things should they check in themselves?
A mendicant who wants to accuse another should check this:
‘Is my bodily behavior pure? Do I have pure bodily behavior that is impeccable and irreproachable?
Is this thing found in me or not?’
If it’s not, there will be people who say:
‘Come on, venerable, train your own bodily behavior first.’
Furthermore, a mendicant who wants to accuse another should check this:
‘Is my verbal behavior pure? Do I have pure verbal behavior that is impeccable and irreproachable?
Is this thing found in me or not?’
If it’s not, there will be people who say:
‘Come on, venerable, train your own verbal behavior first.’
Furthermore, a mendicant who wants to accuse another should check this:
‘Is my heart established in love for my spiritual companions, without resentment?
Is this thing found in me or not?’
If it’s not, there will be people who say:
‘Come on, venerable, establish your heart in love for your spiritual companions first.’
Furthermore, a mendicant who wants to accuse another should check this:
‘Am I very learned, remembering and keeping what I’ve learned? These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. Am I very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically?
Is this thing found in me or not?’
If it’s not, there will be people who say:
‘Come on, venerable, memorize the scriptures first.’
Furthermore, a mendicant who wants to accuse another should check this:
‘Have both monastic codes been passed down to me in detail, well analyzed, well mastered, and well evaluated in both the rules and accompanying material?
Is this thing found in me or not?’
If it’s not, and if they are unable to respond when asked “Venerable, where was this spoken by the Buddha?” there will be people who say:
‘Come on, venerable, train in the monastic code first.’
These are the five things they should check in themselves.
What five things should they establish in themselves?
‘I will speak at the right time, not at the wrong time.
I will speak truthfully, not falsely.
I will speak gently, not harshly.
I will speak beneficially, not harmfully.
I will speak lovingly, not from secret hate.’
These are the five things they should establish in themselves.
A mendicant who wants to accuse another should first check these five things in themselves and establish these five things in themselves.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kusanàrà, trong khóm rừng Baliharana. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác sau khi quán sát nội trú thân năm pháp, sau khi khiến năm pháp an trú nội thân, rồi hãy buộc tội người khác. Thế nào là năm pháp cần phải quán sát nội thân?
TTC 3Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, trong khi buộc tội người khác, cần quán sát như sau: “Ta có thân hành thanh tịnh hay không? Ta có thành tựu thân hành thanh tịnh không có sứt mẻ, không có uế nhiễm hay không? Ta có pháp này hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thân hành không có thanh tịnh, không thành tựu thân hành thanh tịnh, có sứt mẻ, có uế nhiễm, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về thân”. Như vậy các Tỷ-kheo nói với vị ấy.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có khẩu hành thanh tịnh hay không? Ta có thành tựu khẩu hành thanh tịnh không có sứt mẻ, không có uế nhiễm hay không? Ta có pháp này hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khẩu hành không có thanh tịnh, không có thành tựu khẩu hành thanh tịnh, không có sứt mẻ, không có uế nhiễm, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về lời”. Như vậy, các Tỷ-kheo nói với vị ấy.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có an lập từ tâm, không sân hận đối với các đồng Phạm hạnh hay không? Trong ta có pháp ấy hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không an lập từ tâm, sân hận đối với các đồng Phạm hạnh, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy an lập từ tâm đối với các vị đồng Phạm hạnh”. Như vậy, các Tỷ-kheo nói với vị ấy.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người khác, cần phải quán sát như sau: “Ta có phải là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe hay không? Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, ta có nghe nhiều, có thọ trì, có tụng đọc bằng lời, có suy tư với ý, được khéo thể nhập với chánh kiến không? Pháp ấy có nơi ta hay không?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không phải là vị nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh; các pháp ấy, vị ấy không có nghe nhiều, không có thọ trì, không có tụng đọc bằng lời, không có suy tư với ý, không khéo thể nhập với chánh kiến, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về Agama (A-hàm) đi”. Như vậy, các Tỷ-kheo nói với vị ấy.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội, muốn buộc tội người, hãy quán sát như sau: “Cả hai bộ giới bổn Pàtimokkha, ta có khéo truyền đạt một cách rộng rãi, khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết hay không?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không khéo truyền đạt một cách rộng rãi về hai bộ giới bổn Pàtimokkha, không khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết thì: “Thưa Tôn giả, vấn đề này được Thế Tôn nói tại chỗ nào?”, được hỏi như vậy, vị ấy không có thể trả lời. Người ta sẽ nói về vị ấy như sau: “Mong rằng Tôn giả hãy học tập về luật”. Như vậy, có người sẽ nói với vị ấy.
Năm pháp này, cần phải tự quán sát về nội thân.
TTC 8Năm pháp nào cần phải an trú nội tâm?
TTC 9“Ta nói đúng thời, không phải phi thời; ta nói đúng sự thật, không phải không đúng sự thật; ta nói lời nhu hòa, không phải nói lời thô bạo; ta nói lời liên hệ đến mục đích, không phải lời không liên hệ đến mục đích; ta nói với tâm từ bi, không nói với tâm sân hận”.
Năm pháp này cần phải an trú nội tâm.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn buộc tội người khác, sau khi quán sát nội tâm về năm pháp này, sau khi an trú nội tâm về năm pháp này, hãy buộc tội người khác.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kusinārāyaṁ viharati baliharaṇe vanasaṇḍe.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Codakena, bhikkhave, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo.
Katame pañca dhammā ajjhattaṁ paccavekkhitabbā?
Codakena, bhikkhave, bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘parisuddhakāyasamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi kāyasamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhu parisuddhakāyasamācāro hoti parisuddhena kāyasamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena, tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā kāyikaṁ sikkhassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘parisuddhavacīsamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi vacīsamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhu parisuddhavacīsamācāro hoti parisuddhena vacīsamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena, tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā vācasikaṁ sikkhassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘mettaṁ nu kho me cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ sabrahmacārīsu anāghātaṁ.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu anāghātaṁ, tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā sabrahmacārīsu mettaṁ cittaṁ upaṭṭhāpehī’ti, itissa bhavanti vattāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘bahussuto nu khomhi sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpā me dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā, tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā āgamaṁ pariyāpuṇassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
Puna caparaṁ, bhikkhave, codakena bhikkhunā paraṁ codetukāmena evaṁ paccavekkhitabbaṁ:
‘ubhayāni kho pana me pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso.
Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti?
No ce, bhikkhave, bhikkhuno ubhayāni pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso, ‘idaṁ panāyasmā, kattha vuttaṁ bhagavatā’ti, iti puṭṭho na sampāyissati.
Tassa bhavanti vattāro:
‘iṅgha tāva āyasmā vinayaṁ sikkhassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
Ime pañca dhammā ajjhattaṁ paccavekkhitabbā.
Katame pañca dhammā ajjhattaṁ upaṭṭhāpetabbā?
‘Kālena vakkhāmi, no akālena;
bhūtena vakkhāmi, no abhūtena;
saṇhena vakkhāmi, no pharusena;
atthasaṁhitena vakkhāmi, no anatthasaṁhitena;
mettacitto vakkhāmi, no dosantaro’ti—
ime pañca dhammā ajjhattaṁ upaṭṭhāpetabbā.
Codakena, bhikkhave, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo”ti.
Catutthaṁ.