Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Nandaka trú ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ở lâu đài mẹ của Migàra.
Rồi Sàlhà, cháu của Migàra, và Rohana, cháu của Pekhuniya đi đến Tôn giả Nandaka; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Nandaka nói với Sàlhà, cháu trai của Migàra như sau:
TTC 2—Hãy đến, này các Sàlhà Nandaka, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị người trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ”, thời này các Sàlhà, các thầy cần phải từ bỏ chúng.
Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có tham hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
—Tham, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có tham này bị tham chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 4—Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có sân hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
—Sân, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có sân này bị sân chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 5—Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có si hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
—Si, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có si này bị si chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 6—Các thầy nghĩ thế nào, này các Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là bất thiện, thưa Tôn giả.
—Có tội hay không có tội?
—Có tội, thưa Tôn giả.
—Bị người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?
—Bị người có trí quở trách, thưa Tôn giả.
—Ðược thực hiện, được chấp thuận, có đưa lại bất hạnh hay đau khổ không? Hay ở đây là thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp thuận, thưa Tôn giả, chúng đưa lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.
TTC 7—Như vậy, này các Sàlhà, điều ta vừa nói với các thầy, “Chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận; chớ có tin vì nhân định lý; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết; chớ có tin vì thấy là thích hợp; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết, chớ có tin vì thấy là thích hợp; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình”. Này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ”, thời này các Sàlhà, hãy từ bỏ chúng! Ðiều này đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên.
Như vậy, này các Sàlhà, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này là không có tội; các pháp này không bị người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này các Sàlhà, hãy đạt đến và an trú!
TTC 8—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không tham khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?
—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
—Người này không tham, này các Sàlhà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 9—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?
—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
—Người này không sân, này các Sàlhà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, không khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 10—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?
—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
—Người này không si, này các Sàlhà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 11—Các ông nghĩ thế nào, này các Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là thiện, bạch Tôn giả.
—Các Pháp này là tội hay không có tội?
—Không có tội, bạch Tôn giả.
—Bị người trí quở trách hay được người trí tán thán?
—Ðược người trí tán thán, bạch Tôn giả.
—Nếu được thực hiện, được chấp thuận, có đem đến hạnh phúc an lạc không? Hay ở đây là như thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp thuận, bạch Tôn giả, chúng đưa đến hạnh phúc an lạc. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.
TTC 12—Như vậy, này các Sàlhà, điều ta vừa nói với các thầy, “Chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình, chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình”. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này được các người trí tán thán; các pháp này nếu được thực hiện, được chấp nhận, đưa lại hạnh phúc an lạc”, thời này các Sàlhà, hãy chứng đạt và an trú! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên.
TTC 13—Này các Sàlhà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Từ … với tâm câu hữu với Bi … với tâm câu hữu với Hỷ … với tâm câu hữu với Xả, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy rõ biết như sau: “Có trạng thái này, có trạng thái liệt, có trạng thái thù thắng, có xuất ly ra khỏi tưởng giới này.” Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vị ấy rõ biết như sau: “Trước ta có tham, tham ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện. Trước ta có sân, sân ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện. Trước ta có si, si ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vậy là thiện”. Như vậy, ngay trong đời sống hiện tại, vị ấy được giải thoát khỏi hy cầu, được tịch tịnh, được thanh lương, cảm thấy an lạc, tự mình an trú trong Phạm tánh.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā nandako sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Atha kho sāḷho ca migāranattā sāṇo ca sekhuniyanattā yenāyasmā nandako tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sāḷhaṁ migāranattāraṁ āyasmā nandako etadavoca:
“Etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha ‘ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, sāḷhā, pajaheyyātha.
Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā,
atthi lobho”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Abhijjhāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Luddho kho ayaṁ, sāḷhā, abhijjhālu pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā,
atthi doso”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Byāpādoti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Duṭṭho kho ayaṁ, sāḷhā, byāpannacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā,
atthi moho”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Avijjāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Mūḷho kho ayaṁ, sāḷhā, avijjāgato pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Akusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Sāvajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññugarahitā, bhante”.
“Samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattanti, no vā?
Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti.
Evaṁ no ettha hotī”ti.
“Iti kho, sāḷhā, yaṁ taṁ avocumhā:
‘etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha—
ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti, atha tumhe, sāḷhā, pajaheyyāthā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha:
‘ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, sāḷhā, upasampajja vihareyyātha.
Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi alobho”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Anabhijjhāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Aluddho kho ayaṁ, sāḷhā, anabhijjhālu neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi adoso”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Abyāpādoti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Aduṭṭho kho ayaṁ, sāḷhā, abyāpannacitto neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā,
atthi amoho”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Vijjāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Amūḷho kho ayaṁ, sāḷhā, vijjāgato neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Kusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Anavajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññuppasatthā, bhante”.
“Samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti, no vā?
Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantīti.
Evaṁ no ettha hotī”ti.
“Iti kho, sāḷhā, yaṁ taṁ avocumhā:
‘etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha—
ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya saṁvattantīti, atha tumhe, sāḷhā, upasampajja vihareyyāthā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Sa kho so, sāḷhā, ariyasāvako evaṁ vigatābhijjho vigatabyāpādo asammūḷho sampajāno patissato mettāsahagatena cetasā …pe…
karuṇā …
muditā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ, iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjhena pharitvā viharati.
So evaṁ pajānāti:
‘atthi idaṁ, atthi hīnaṁ, atthi paṇītaṁ, atthi imassa saññāgatassa uttari nissaraṇan’ti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati;
vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
So evaṁ pajānāti:
‘ahu pubbe lobho, tadahu akusalaṁ, so etarahi natthi, iccetaṁ kusalaṁ;
ahu pubbe doso …pe…
ahu pubbe moho, tadahu akusalaṁ, so etarahi natthi, iccetaṁ kusalan’ti.
So diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītibhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharatī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
Thus I heard. On one occasion the venerable Nandaka was living at Savatthi in the Eastern Monastery, Migara’s Mother’s Palace. Then Migara’s grandson, Salha, and Pekhuniya’s grandson, Rohana, went to the venerable Nandaka, and after salutation they sat down at one side. When they had done so the venerable Nandaka said to Migara’s grandson Salha:
“Come, Salha, do not be satisfied with hearsay or with tradition or with legendary lore or with what has come down in scriptures or with conjecture or with logical inference or with weighing evidence or with a liking for a view after pondering it or with someone else’s ability or with the thought ‘The monk is our teacher.’ When you know in yourself ‘These things are unprofitable, liable to censure, condemned by the wise, being adopted and put into effect, they lead to harm and suffering,’ then you should abandon them. What do you think? Is there greed?"—"Yes, venerable sir."—"Covetousness is the meaning of that, I say. Through greed a covetous man kills breathing things, takes what is not given, commits adultery, and utters falsehood, and he gets another to do likewise. Will that be long for his harm and suffering?"—"Yes, venerable sir."—"What do you think, is there hate?"—"Yes, venerable sir."—"Ill-will is the meaning of that, I say. Through hate a malevolent man kills breathing things… Will that be long for his harm and suffering?"—"Yes, venerable sir."—"What do you think? Is there delusion?"—"Yes, venerable sir."—"Ignorance is the meaning of that, I say. Through ignorance a deluded man kills breathing things… Will that be long for his harm and suffering?"—"Yes, venerable sir.”
“What do you think? Are these things profitable or unprofitable?"—"Unprofitable, venerable sir."—"Reprehensible or blameless?"—"Reprehensible, venerable sir."—"Condemned or commended by the wise?"—"Condemned by the wise, venerable sir."—"Being adopted and put into effect, do they lead to harm and suffering, or do they not, or how does it appear to you in this case?"—"Being adopted and put into effect, venerable sir, they lead to harm and suffering. So it appears in this case."—"Now that was the reason why I told you ‘Come Salha, do not be satisfied with hearsay… When you know in yourself “These things are unprofitable,” then you should abandon them.’
“Come Salha, do not be satisfied with hearsay… or with the thought, ‘The monk is our teacher.’ When you know in yourself: ‘These things are profitable, blameless, commended by the wise, being adopted and put into effect they lead to welfare and happiness,’ then you should practice them and abide in them. What do you think? Is there non-greed?"—"Yes, venerable sir."—"Uncovetousness is the meaning of that, I say. Through non-greed an uncovetous man does not kill breathing things or take what is not given or commit adultery or utter falsehood, and he gets another to do likewise. Will that be long for his welfare and happiness?"—"Yes, venerable sir."—"What do you think? Is there non-hate?"—"Yes, venerable sir."—"Non ill-will is the meaning of that, I say. Through non ill-will an unmalevolent man does not kill breathing things… Will that be long for his welfare and happiness?"—"Yes, venerable sir."—"What do you think? Is there non-delusion?"—"Yes, venerable sir."—"True knowledge is the meaning of that, I say. Through non-delusion a man with true knowledge does not kill breathing things… Will that be long for his welfare and happiness?"—"Yes, venerable sir.”
“What do you think? Are these things profitable or unprofitable?"—"Profitable, venerable sir."—"Reprehensible or blameless?"—"Blameless, venerable sir."—"Condemned or commended by the wise?"—"Commended by the wise, venerable sir."—"Being adopted and put into effect, do they lead to welfare and happiness, or do they not, or how does it appear to you in this case?"—"Being adopted and put into effect, venerable sir, they lead to welfare and happiness. So it appears to us in this case."—"Now that was the reason why I told you ‘Come Salha, do not be satisfied with hearsay… when you know in yourself “These things are profitable…” then you should practice them and abide in them.’
“Now a disciple who is ennobled [by reaching the Noble Path], who has rid himself in this way of covetousness and ill-will and is undeluded, abides with his heart imbued with loving-kindness extending over one quarter, likewise the second quarter, likewise the third quarter, likewise the fourth quarter, and so above, below, around, and everywhere, and to all as to himself; he abides with his heart abundant, exalted, measureless in loving-kindness without hostility or ill-will extending over the all-encompassing world. He abides with his heart imbued with compassion… gladness… equanimity extending over the all-encompassing world. Now he understands this state of contemplation in this way: ‘There is this [state of Divine Abiding in he who has entered the Stream]. There is what has been abandoned [which is the amount of greed, hate and delusion exhausted by the stream-entry Path]. There is a superior goal [which is arahantship]. And there is an ultimate escape from this whole field of perception.’
“When he knows and sees in this way, his heart is liberated from the taint of sensual desire, from the taint of being, and from the taint of ignorance. When liberated [by reaching the arahant Path], there comes thereafter the knowledge that it is liberated. He knows that birth is ended, that the Divine Life has been lived out, that what had to be done is done, and that there is no more of this to come. He understands thus: ‘Formerly there was greed which was bad, and now there is none, which is good. Formerly there was hate, which was bad, and now there is none, which is good. Formerly there was delusion, which was bad, and now there is none, which is good.’ So here and now in this very life he is parched no more [by the fever of craving’s thirst], his fires of greed, hate and delusion are extinguished and cooled out; experiencing bliss, he abides [for the remainder of his last life-span] divinely pure in himself.”
Như vầy tôi nghe.
Một thời Tôn giả Nandaka trú ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, ở lâu đài mẹ của Migàra.
Rồi Sàlhà, cháu của Migàra, và Rohana, cháu của Pekhuniya đi đến Tôn giả Nandaka; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Nandaka nói với Sàlhà, cháu trai của Migàra như sau:
TTC 2—Hãy đến, này các Sàlhà Nandaka, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị người trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ”, thời này các Sàlhà, các thầy cần phải từ bỏ chúng.
Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có tham hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
—Tham, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có tham này bị tham chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cùng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 4—Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có sân hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
—Sân, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có sân này bị sân chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 5—Này các Sàlhà, các thầy nghĩ thế nào, có si hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
—Si, này các Sàlhà, ta nói nghĩa này là vậy. Này các Sàlhà, người có si này bị si chinh phục, giết các sinh loại, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy, như vậy có làm người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 6—Các thầy nghĩ thế nào, này các Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là bất thiện, thưa Tôn giả.
—Có tội hay không có tội?
—Có tội, thưa Tôn giả.
—Bị người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?
—Bị người có trí quở trách, thưa Tôn giả.
—Ðược thực hiện, được chấp thuận, có đưa lại bất hạnh hay đau khổ không? Hay ở đây là thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp thuận, thưa Tôn giả, chúng đưa lại bất hạnh đau khổ. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.
TTC 7—Như vậy, này các Sàlhà, điều ta vừa nói với các thầy, “Chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận; chớ có tin vì nhân định lý; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết; chớ có tin vì thấy là thích hợp; chớ có tin, sau khi thẩm lự hay chấp nhận một vài lý thuyết, chớ có tin vì thấy là thích hợp; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình”. Này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là bất thiện; các pháp này là có tội; các pháp này bị người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa lại bất hạnh và đau khổ”, thời này các Sàlhà, hãy từ bỏ chúng! Ðiều này đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên.
Như vậy, này các Sàlhà, chớ có tin vì nghe theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này là không có tội; các pháp này không bị người có trí quở trách; các pháp này nếu được thực hành và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này các Sàlhà, hãy đạt đến và an trú!
TTC 8—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không tham khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?
—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
—Người này không tham, này các Sàlhà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 9—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?
—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
—Người này không sân, này các Sàlhà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, không khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 10—Các Ông nghĩ như thế nào, này các Sàlhà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại bất hạnh hay hạnh phúc lâu dài cho người ấy?
—Hạnh phúc, thưa Tôn giả.
—Người này không si, này các Sàlhà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy được hạnh phúc, an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Tôn giả.
TTC 11—Các ông nghĩ thế nào, này các Sàlhà. Các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là thiện, bạch Tôn giả.
—Các Pháp này là tội hay không có tội?
—Không có tội, bạch Tôn giả.
—Bị người trí quở trách hay được người trí tán thán?
—Ðược người trí tán thán, bạch Tôn giả.
—Nếu được thực hiện, được chấp thuận, có đem đến hạnh phúc an lạc không? Hay ở đây là như thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp thuận, bạch Tôn giả, chúng đưa đến hạnh phúc an lạc. Ở đây, đối với chúng con là như vậy.
TTC 12—Như vậy, này các Sàlhà, điều ta vừa nói với các thầy, “Chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình, chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền; chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình”. Nhưng này các Sàlhà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; các pháp này không có tội; các pháp này được các người trí tán thán; các pháp này nếu được thực hiện, được chấp nhận, đưa lại hạnh phúc an lạc”, thời này các Sàlhà, hãy chứng đạt và an trú! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính là do duyên như vậy được nói lên.
TTC 13—Này các Sàlhà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Từ … với tâm câu hữu với Bi … với tâm câu hữu với Hỷ … với tâm câu hữu với Xả, biến mãn một phương, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy rõ biết như sau: “Có trạng thái này, có trạng thái liệt, có trạng thái thù thắng, có xuất ly ra khỏi tưởng giới này.” Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vị ấy rõ biết như sau: “Trước ta có tham, tham ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện. Trước ta có sân, sân ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vầy là thiện. Trước ta có si, si ấy là bất thiện. Nay ta không có nữa. Như vậy là thiện”. Như vậy, ngay trong đời sống hiện tại, vị ấy được giải thoát khỏi hy cầu, được tịch tịnh, được thanh lương, cảm thấy an lạc, tự mình an trú trong Phạm tánh.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā nandako sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
Atha kho sāḷho ca migāranattā sāṇo ca sekhuniyanattā yenāyasmā nandako tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sāḷhaṁ migāranattāraṁ āyasmā nandako etadavoca:
“Etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha ‘ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, sāḷhā, pajaheyyātha.
Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā,
atthi lobho”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Abhijjhāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Luddho kho ayaṁ, sāḷhā, abhijjhālu pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā,
atthi doso”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Byāpādoti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Duṭṭho kho ayaṁ, sāḷhā, byāpannacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā,
atthi moho”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Avijjāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Mūḷho kho ayaṁ, sāḷhā, avijjāgato pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Akusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Sāvajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññugarahitā, bhante”.
“Samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattanti, no vā?
Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti.
Evaṁ no ettha hotī”ti.
“Iti kho, sāḷhā, yaṁ taṁ avocumhā:
‘etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha—
ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti, atha tumhe, sāḷhā, pajaheyyāthā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha:
‘ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, sāḷhā, upasampajja vihareyyātha.
Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi alobho”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Anabhijjhāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Aluddho kho ayaṁ, sāḷhā, anabhijjhālu neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, atthi adoso”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Abyāpādoti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Aduṭṭho kho ayaṁ, sāḷhā, abyāpannacitto neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā,
atthi amoho”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Vijjāti kho ahaṁ, sāḷhā, etamatthaṁ vadāmi.
Amūḷho kho ayaṁ, sāḷhā, vijjāgato neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, parampi na tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, sāḷhā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Kusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Anavajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññuppasatthā, bhante”.
“Samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti, no vā?
Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantīti.
Evaṁ no ettha hotī”ti.
“Iti kho, sāḷhā, yaṁ taṁ avocumhā:
‘etha tumhe, sāḷhā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, sāḷhā, attanāva jāneyyātha—
ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā dīgharattaṁ hitāya sukhāya saṁvattantīti, atha tumhe, sāḷhā, upasampajja vihareyyāthā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Sa kho so, sāḷhā, ariyasāvako evaṁ vigatābhijjho vigatabyāpādo asammūḷho sampajāno patissato mettāsahagatena cetasā …pe…
karuṇā …
muditā …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ, iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjhena pharitvā viharati.
So evaṁ pajānāti:
‘atthi idaṁ, atthi hīnaṁ, atthi paṇītaṁ, atthi imassa saññāgatassa uttari nissaraṇan’ti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati;
vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
So evaṁ pajānāti:
‘ahu pubbe lobho, tadahu akusalaṁ, so etarahi natthi, iccetaṁ kusalaṁ;
ahu pubbe doso …pe…
ahu pubbe moho, tadahu akusalaṁ, so etarahi natthi, iccetaṁ kusalan’ti.
So diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītibhūto sukhappaṭisaṁvedī brahmabhūtena attanā viharatī”ti.
Chaṭṭhaṁ.