—Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Không hy vọng, có hy vọng, ly hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người không hy vọng?, Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được sanh trong một gia đình thấp kém, gia đình một người đổ phân, hay gia đình một người thợ săn hay gia đình một người đan tre, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác, hay trong gia đình một người nghèo khổ, khó tìm được đồ ăn uống để sống, khó tìm cho được đồ ăn đồ mặc … Và người ấy xấu xí, khó ngó, lùn, thấp, nhiều bệnh hoạn, đui một mắt, còm, què, hay đi khập khễnh, không có được đồ ăn, đồ uống đồ mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ ở hay đèn. Người ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đế-lỵ”. Người ấy không nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ?”. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người có hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, trưởng nam của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, xứng đáng để được làm lễ quán đảnh, nhưng chưa làm lễ quán đảnh và đạt đến địa vị bất động (đã đến tuổi thành niên). Người ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đế-lỵ”. Người ấy suy nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ?”. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người có hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người ly hy vọng? Ở đây này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Vị ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đế-lỵ”. Người ấy không nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ? “Vì cớ sao? Sự hy vọng được làm lễ quán đảnh trước khi chưa làm lễ quán đảnh, hy vọng ấy được hoàn toàn chấm dứt. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người đã ly hy vọng.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt ở đời. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba hạng người xuất hiện, có mặt giữa các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Không hy vọng, có hy vọng, ly hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người không hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người ác giới, tánh tình độc ác, sở hành bất tịnh, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn, nhưng hiện tướng là Sa-môn, không sống Phạm hạnh, nhưng hiện tướng có Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh. Người này nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Người ấy không suy nghĩ như sau: “Ðến khi nào, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?” Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người có hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo giữ tánh tình hiền thiện. Vị ấy nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy, đã đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ðến khi nào, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta sẽ chứng đạt, chứng ngộ và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?” Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người có hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người ly hy vọng? Ở đây này các Tỷ-kheo, một vị A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Vị này nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy … tuệ giải thoát”. Vị ấy không suy nghĩ như sau : “Ðến khi nào, do đoạn tận … tuệ giải thoát?” Vì cớ sao? Hy vọng được giải thoát trước khi chưa giải thoát, này các Tỷ-kheo, hy vọng ấy đã được hoàn toàn chấm dứt. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, là người ly hy vọng.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt giữa các vị Tỷ-kheo.
“Tayome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Nirāso, āsaṁso, vigatāso.
Katamo ca, bhikkhave puggalo nirāso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo nīce kule paccājāto hoti, caṇḍālakule vā venakule vā nesādakule vā rathakārakule vā pukkusakule vā dalidde appannapānabhojane kasiravuttike, yattha kasirena ghāsacchādo labbhati.
So ca hoti dubbaṇṇo duddasiko okoṭimako bavhābādho kāṇo vā kuṇī vā khañjo vā pakkhahato vā, na lābhī annassa pānassa vatthassa yānassa mālāgandhavilepanassa seyyāvasathapadīpeyyassa.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira khattiyo khattiyehi khattiyābhisekena abhisitto’ti.
Tassa na evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma mampi khattiyā khattiyābhisekena abhisiñcissantī’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo nirāso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo āsaṁso?
Idha, bhikkhave, rañño khattiyassa muddhāvasittassa jeṭṭho putto hoti ābhiseko anabhisitto acalappatto.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira khattiyo khattiyehi khattiyābhisekena abhisitto’ti.
Tassa evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma mampi khattiyā khattiyābhisekena abhisiñcissantī’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo āsaṁso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo vigatāso?
Idha, bhikkhave, rājā hoti khattiyo muddhāvasitto.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira khattiyo khattiyehi khattiyābhisekena abhisitto’ti.
Tassa na evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma mampi khattiyā khattiyābhisekena abhisiñcissantī’ti.
Taṁ kissa hetu?
Yā hissa, bhikkhave, pubbe anabhisittassa abhisekāsā sā paṭippassaddhā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo vigatāso.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu.
Katame tayo?
Nirāso, āsaṁso, vigatāso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo nirāso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo dussīlo hoti pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Tassa na evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma ahampi āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissāmī’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo nirāso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo āsaṁso?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti kalyāṇadhammo.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Tassa evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma ahampi āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissāmī’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo āsaṁso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo vigatāso?
Idha, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Tassa na evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma ahampi āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharissāmī’ti.
Taṁ kissa hetu?
Yā hissa, bhikkhave, pubbe avimuttassa vimuttāsā sā paṭippassaddhā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo vigatāso.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsū”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these three kinds of persons found existing in the world. What three? The one without expectation, the one full of expectation, and the one who has overcome expectation.
SC 2(1) “And what, bhikkhus, is the person without expectation? Here, a person has been reborn in a low family—a family of caṇḍālas, bamboo workers, hunters, cart makers, or flower scavengers—one that is poor, with little food and drink, that subsists with difficulty, where food and clothing are obtained with difficulty; and he is ugly, unsightly, dwarfish, with much illness: blind, crippled, lame, or paralyzed. He does not obtain food, drink, clothing, and vehicles; garlands, scents, and unguents; bedding, housing, and lighting. He hears: ‘The khattiyas have anointed such and such a khattiya.’ It does not occur to him: ‘When will the khattiyas anoint me too?’ This is called the person without expectation.
SC 3(2) “And what is the person full of expectation? an.i.108 Here, the eldest son of a head-anointed khattiya king, one due to be anointed but not yet anointed, has attained the unshaken. He hears: ‘The khattiyas have anointed such and such a khattiya.’ It occurs to him: ‘When will the khattiyas anoint me too?’ This is called the person full of expectation.
SC 4(3) “And what is the person who has overcome expectation? Here, a head-anointed khattiya king hears: ‘Such and such a khattiya has been anointed by the khattiyas.’ It does not occur to him: ‘When will the khattiyas anoint me too?’ For what reason? Because his past expectation of anointment subsided when he was anointed. This is called the person who has overcome expectation.
SC 5“These are the three kinds of persons found existing in the world.
SC 6“So too, bhikkhus, there are three kinds of persons found existing among the bhikkhus. What three? The one without expectation, the one full of expectation, and the one who has overcome expectation.
SC 7(1) “And what, bhikkhus, is the person without expectation? Here, some person is immoral, of bad character, of impure and suspect behavior, secretive in his actions, not an ascetic though claiming to be one, not a celibate though claiming to be one, inwardly rotten, corrupt, depraved. He hears: ‘Such and such a bhikkhu, with the destruction of the taints, has realized for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, he dwells in it.’ It does not occur to him: ‘When will I, too, with the destruction of the taints, realize for myself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, dwell in it?’ This is called the person without expectation.
SC 8(2) “And what is the person full of expectation? Here, a bhikkhu is virtuous, of good character. He an.i.109 hears: ‘Such and such a bhikkhu, with the destruction of the taints, has realized for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, he dwells in it.’ It occurs to him: ‘When will I, too, with the destruction of the taints, realize for myself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, dwell in it?’ This is called the person full of expectation.
SC 9(3) “And what is the person who has overcome expectation? Here, a bhikkhu is an arahant, one whose taints are destroyed. He hears: ‘Such and such a bhikkhu, with the destruction of the taints, has realized for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, he dwells in it.’ It does not occur to him: ‘When will I, too, with the destruction of the taints, realize for myself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, dwell in it?’ For what reason? Because his past expectation of liberation subsided when he was liberated. This is called the person who has overcome expectation.
SC 10“These, bhikkhus, are the three kinds of persons found existing among the bhikkhus.”
—Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt ở đời. Thế nào là ba? Không hy vọng, có hy vọng, ly hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người không hy vọng?, Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người được sanh trong một gia đình thấp kém, gia đình một người đổ phân, hay gia đình một người thợ săn hay gia đình một người đan tre, hay gia đình người đóng xe, hay gia đình người quét rác, hay trong gia đình một người nghèo khổ, khó tìm được đồ ăn uống để sống, khó tìm cho được đồ ăn đồ mặc … Và người ấy xấu xí, khó ngó, lùn, thấp, nhiều bệnh hoạn, đui một mắt, còm, què, hay đi khập khễnh, không có được đồ ăn, đồ uống đồ mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ ở hay đèn. Người ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đế-lỵ”. Người ấy không nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ?”. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người có hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, trưởng nam của vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, xứng đáng để được làm lễ quán đảnh, nhưng chưa làm lễ quán đảnh và đạt đến địa vị bất động (đã đến tuổi thành niên). Người ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đế-lỵ”. Người ấy suy nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ?”. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người có hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người ly hy vọng? Ở đây này các Tỷ-kheo, vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh. Vị ấy nghe nói như sau: “Vị Sát-đế-lỵ tên như vậy đã được các Sát-đế-lỵ làm lễ quán đảnh theo lễ quán đảnh của các Sát-đế-lỵ”. Người ấy không nghĩ như sau: “Không biết khi nào các Sát-đế-lỵ mới làm lễ quán đảnh cho ta theo lễ quán đảnh của Sát-đế-lỵ? “Vì cớ sao? Sự hy vọng được làm lễ quán đảnh trước khi chưa làm lễ quán đảnh, hy vọng ấy được hoàn toàn chấm dứt. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người đã ly hy vọng.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt ở đời. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba hạng người xuất hiện, có mặt giữa các Tỷ-kheo. Thế nào là ba? Không hy vọng, có hy vọng, ly hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người không hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người ác giới, tánh tình độc ác, sở hành bất tịnh, có những hành vi che đậy, không phải là Sa-môn, nhưng hiện tướng là Sa-môn, không sống Phạm hạnh, nhưng hiện tướng có Phạm hạnh, nội tâm hôi hám, ứ đầy tham dục, tánh tình bất tịnh. Người này nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Người ấy không suy nghĩ như sau: “Ðến khi nào, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta sẽ chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?” Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người không hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người có hy vọng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo giữ tánh tình hiền thiện. Vị ấy nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy, đã đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Người ấy suy nghĩ như sau: “Ðến khi nào, do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, ta sẽ chứng đạt, chứng ngộ và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát?” Người như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là người có hy vọng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người ly hy vọng? Ở đây này các Tỷ-kheo, một vị A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc. Vị này nghe: “Tỷ-kheo có tên như vậy … tuệ giải thoát”. Vị ấy không suy nghĩ như sau : “Ðến khi nào, do đoạn tận … tuệ giải thoát?” Vì cớ sao? Hy vọng được giải thoát trước khi chưa giải thoát, này các Tỷ-kheo, hy vọng ấy đã được hoàn toàn chấm dứt. Người như vậy, này các Tỷ-kheo, là người ly hy vọng.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuất hiện, có mặt giữa các vị Tỷ-kheo.
“Tayome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Nirāso, āsaṁso, vigatāso.
Katamo ca, bhikkhave puggalo nirāso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo nīce kule paccājāto hoti, caṇḍālakule vā venakule vā nesādakule vā rathakārakule vā pukkusakule vā dalidde appannapānabhojane kasiravuttike, yattha kasirena ghāsacchādo labbhati.
So ca hoti dubbaṇṇo duddasiko okoṭimako bavhābādho kāṇo vā kuṇī vā khañjo vā pakkhahato vā, na lābhī annassa pānassa vatthassa yānassa mālāgandhavilepanassa seyyāvasathapadīpeyyassa.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira khattiyo khattiyehi khattiyābhisekena abhisitto’ti.
Tassa na evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma mampi khattiyā khattiyābhisekena abhisiñcissantī’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo nirāso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo āsaṁso?
Idha, bhikkhave, rañño khattiyassa muddhāvasittassa jeṭṭho putto hoti ābhiseko anabhisitto acalappatto.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira khattiyo khattiyehi khattiyābhisekena abhisitto’ti.
Tassa evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma mampi khattiyā khattiyābhisekena abhisiñcissantī’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo āsaṁso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo vigatāso?
Idha, bhikkhave, rājā hoti khattiyo muddhāvasitto.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira khattiyo khattiyehi khattiyābhisekena abhisitto’ti.
Tassa na evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma mampi khattiyā khattiyābhisekena abhisiñcissantī’ti.
Taṁ kissa hetu?
Yā hissa, bhikkhave, pubbe anabhisittassa abhisekāsā sā paṭippassaddhā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo vigatāso.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu.
Katame tayo?
Nirāso, āsaṁso, vigatāso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo nirāso?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo dussīlo hoti pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Tassa na evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma ahampi āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissāmī’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo nirāso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo āsaṁso?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti kalyāṇadhammo.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Tassa evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma ahampi āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissāmī’ti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo āsaṁso.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo vigatāso?
Idha, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ hoti khīṇāsavo.
So suṇāti:
‘itthannāmo kira bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’ti.
Tassa na evaṁ hoti:
‘kudāssu nāma ahampi āsavānaṁ khayā …pe… sacchikatvā upasampajja viharissāmī’ti.
Taṁ kissa hetu?
Yā hissa, bhikkhave, pubbe avimuttassa vimuttāsā sā paṭippassaddhā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puggalo vigatāso.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsū”ti.
Tatiyaṁ.