TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn Anàthapindika. Bấy giờ có Gia chủ Anàthapindika, vào buổi sáng thật sớm đi ra khỏi Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Rồi Gia chủ Anàthapindika suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang Thiền tịnh. Cũng không phải thời để yến kiến các vị Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo tu tập về ý đang Thiền tịnh. Vậy ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi Gia chủ Anàthapindika đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.
TTC 2Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy liền dặn dò bảo với nhau: “Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả chớ có làm ồn, các Tôn giả. Gia chủ Anàthapindika này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, trong những đệ tử của Sa-môn Gotama có gia đình mặc áo trắng ở Sàvatthi, Gia chủ Anàthapindika là một trong những vị ấy. Các vị ấy ít ưa ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây”. Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng.
TTC 3Rồi Gia chủ Anàthapinidika đi đến các du sĩ đạo ấy, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Anàthapidika đang ngồi một bên:
—Này Gia chủ, hãy nói lên Sa-môn Gotama có kiến gì?
—Thưa các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của Thế Tôn.
—Này Gia chủ, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama. Nhưng này Gia chủ, hãy nói các Tỷ-kheo có kiến gì?
—Thưa các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo.
—Này Gia chủ, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo. Vậy này Gia chủ, hãy nói về kiến của Gia chủ.
—Thưa các Tôn giả, thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi. Nhưng các Tôn giả hãy trả lời về kiến của các Tôn giả trước. Rồi sau thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi.
TTC 4Khi được nói vậy, một du sĩ ngoại đạo nói với Gia chủ Anàthapindika: “Thường còn là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Một du sĩ ngoại đạo khác nói với Gia chủ Anàthapindika: “Vô thường là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Như vậy là kiến của tôi.” Rồi một du sĩ ngoại đạo khác nói với Gia chủ Anàthapindika: “Có biên tế là thế giới… không có biên tế là thế giới… mạng sống và thân thể là một… mạng sống và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại sau khi chết… Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không không có tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”.
TTC 5Khi nghe nói vậy, Gia chủ Anàthapindika nói với các du sĩ ngoại đạo ấy:
—Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: “Thường còn là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hay do duyên nghe tiếng người khác nói. Kiến ấy như vậy được sanh, được tác thành (hữu vi) do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp trước (dính vào); cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp nhận. Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: “Vô thường là thế giới này… có biên tế là thế giới này… không biên tế là thế giới này…sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hoặc do duyên nghe tiếng người khác nói. Kiến như vậy được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp trước; cái khổ ấy, Tôn giả chấp nhận.
TTC 6Khi được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Anàthapindika:
—Này Gia chủ, tất cả kiến của chúng tôi đã được nói lên. Này Gia chủ, hãy nói lên kiến của Gia chủ là gì?
—Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy là “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.” Tôi có kiến như vậy, thưa các Tôn giả.
—Này Gia chủ, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp trước, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp nhận.
—Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Như vậy là như thật khéo thấy với chánh trí tuệ. Và từ nơi khổ ấy, tôi như thật rõ biết sự xuất ly hơn thế nữa.
Khi nghe nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy ngồi im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói lên lời.
TTC 7Rồi Gia chủ Anàthapinika, sau khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói lên lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Gia chủ Anàthapindika, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào, đều thuật lại tất cả cho Thế Tôn rõ.
—“Lành thay, lành thay, này Gia chủ. Như vậy, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường cần phải được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp”. Rồi Thế Tôn với một bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Gia chủ Anàthapindika. Rồi Gia chủ Anàthapindika, sau khi được Thế Tôn với bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 8Rồi Thế Tôn, sau khi Gia chủ Anàthapindika ra đi không bao lâu, bảo các vị Tỷ-kheo:
—Tỷ-kheo nào dầu đã được đầy đủ 100 năm an cư mùa mưa trong Pháp và Luật này, vị ấy cần phải như vậy, thường thường bác bỏ các du sĩ ngoại đạo, với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp, như Gia chủ Anàhtapindika đã khéo bác bỏ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati divā divassa sāvatthiyā nikkhami bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa etadahosi:
“akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya.
Paṭisallīno bhagavā.
Manobhāvanīyānampi bhikkhūnaṁ akālo dassanāya.
Paṭisallīnā manobhāvanīyā bhikkhū.
Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena aññatitthiyā paribbājakā saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā nisinnā honti.
Addasaṁsu kho te aññatitthiyā paribbājakā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna aññamaññaṁ saṇṭhāpesuṁ:
“appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha.
Ayaṁ anāthapiṇḍiko gahapati ārāmaṁ āgacchati samaṇassa gotamassa sāvako.
Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā sāvatthiyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro anāthapiṇḍiko gahapati.
Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino.
Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Atha kho te aññatitthiyā paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena te aññatitthiyā paribbājakā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhiko samaṇo gotamo”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, bhagavato sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāmī”ti.
“Iti kira tvaṁ, gahapati, na samaṇassa gotamassa sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi;
vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikā bhikkhū”ti?
“Bhikkhūnampi kho ahaṁ, bhante, na sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāmī”ti.
“Iti kira tvaṁ, gahapati, na samaṇassa gotamassa sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi napi bhikkhūnaṁ sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi;
vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikosi tuvan”ti?
“Etaṁ kho, bhante, amhehi na dukkaraṁ byākātuṁ yaṁdiṭṭhikā mayaṁ.
Iṅgha tāva āyasmanto yathāsakāni diṭṭhigatāni byākarontu, pacchāpetaṁ amhehi na dukkaraṁ bhavissati byākātuṁ yaṁdiṭṭhikā mayan”ti.
Evaṁ vutte, aññataro paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
Aññataropi kho paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
Aññataropi kho paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“antavā loko …pe…
anantavā loko …
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
Evaṁ vutte, anāthapiṇḍiko gahapati te paribbājake etadavoca:
“yvāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha:
‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti,
imassa ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā.
Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā.
Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato.
Yopāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha:
‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti,
imassāpi ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā.
Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā.
Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato.
Yopāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha:
‘antavā loko …pe…
anantavā loko …
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti,
imassāpi ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā.
Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā.
Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato”ti.
Evaṁ vutte te paribbājakā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavocuṁ:
“byākatāni kho, gahapati, amhehi sabbeheva yathāsakāni diṭṭhigatāni.
Vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikosi tuvan”ti?
“Yaṁ kho, bhante, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
‘Yaṁ dukkhaṁ taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, bhante”ti.
“Yaṁ kho, gahapati, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
Yaṁ dukkhaṁ tadeva tvaṁ, gahapati, allīno, tadeva tvaṁ, gahapati, ajjhupagato”ti.
“Yaṁ kho, bhante, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
‘Yaṁ dukkhaṁ taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, nameso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ.
Tassa ca uttari nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāmī”ti.
Evaṁ vutte te paribbājakā tuṇhībhūtā maṅkubhūtā pattakkhandhā adhomukhā pajjhāyantā appaṭibhānā nisīdiṁsu.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati te paribbājake tuṇhībhūte maṅkubhūte pattakkhandhe adhomukhe pajjhāyante appaṭibhāne viditvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho anāthapiṇḍiko gahapati yāvatako ahosi tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Sādhu sādhu, gahapati.
Evaṁ kho te, gahapati, moghapurisā kālena kālaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetabbā”ti.
Atha kho bhagavā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante anāthapiṇḍike gahapatimhi bhikkhū āmantesi:
“yopi so, bhikkhave, bhikkhu vassasatupasampanno imasmiṁ dhammavinaye, sopi evamevaṁ aññatitthiye paribbājake sahadhammena suniggahitaṁ niggaṇheyya yathā taṁ anāthapiṇḍikena gahapatinā niggahitā”ti.
Tatiyaṁ.
I have heard that on one occasion the Blessed One was staying near Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapindika’s monastery. Then Anathapindika the householder left Savatthi in the middle of the day to see the Blessed One, but the thought then occurred to him, “Now is not the right time to see the Blessed One, for he is in seclusion. And it is not the right time to see the monks who are developing their minds [in meditation], for they are in seclusion. What if I were to visit the park of the wanderers of other persuasions?” So he headed to the park of the wanderers of other persuasions.
Now on that occasion the wanderers of other persuasions had come together in a gathering and were sitting, discussing many kinds of bestial topics, making a great noise and racket. They saw Anathapindika the householder coming from afar, and on seeing him, hushed one another: “Be quiet, good sirs. Don’t make any noise. Here comes Anathapindika the householder, a disciple of Gotama the contemplative. He is one of those disciples of Gotama the contemplative, clad in white, who lives in Savatthi. These people are fond of quietude and speak in praise of quietude. Maybe, if he perceives our group as quiet, he will consider it worth his while to come our way.” So the wanderers fell silent.
Then Anathapindika the householder went to where the wanderers of other persuasions were staying. On arrival he greeted them courteously. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, the wanderers said to him, “Tell us, householder, what views Gotama the contemplative has.”
“Venerable sirs, I don’t know entirely what views the Blessed One has.”
“Well, well. So you don’t know entirely what views Gotama the contemplative has. Then tell us what views the monks have.”
“I don’t even know entirely what views the monks have.”
“So you don’t know entirely what views Gotama the contemplative has or even that the monks have. Then tell us what views you have.”
“It wouldn’t be difficult for me to expound to you what views I have. But please let the venerable ones expound each in line with his position, and then it won’t be difficult for me to expound to you what views I have.”
When this had been said, one of the wanderers said to Anathapindika the householder, ”The cosmos is eternal. Only this is true; anything otherwise is worthless. This is the sort of view I have.”
Another wanderer said to Anathapindika, ”The cosmos is not eternal. Only this is true; anything otherwise is worthless. This is the sort of view I have.”
Another wanderer said, “The cosmos is finite… The cosmos is infinite… The soul & the body are the same… The soul is one thing and the body another… After death a Tathagata exists… After death a Tathagata does not exist… After death a Tathagata both does & does not exist… After death a Tathagata neither does nor does not exist. Only this is true; anything otherwise is worthless. This is the sort of view I have.”
When this had been said, Anathapindika the householder said to the wanderers, “As for the venerable one who says, ‘The cosmos is eternal. Only this is true; anything otherwise is worthless. This is the sort of view I have,’ his view arises from his own inappropriate attention or in dependence on the words of another. Now this view has been brought into being, is fabricated, willed, dependently originated. Whatever has been brought into being, is fabricated, willed, dependently originated, that is inconstant. Whatever is inconstant is stress. This venerable one thus adheres to that very stress, submits himself to that very stress.” (Similarly for the other positions.)
When this had been said, the wanderers said to Anathapindika the householder, “We have each & every one expounded to you in line with our own positions. Now tell us what views you have.”
“Whatever has been brought into being, is fabricated, willed, dependently originated, that is inconstant. Whatever is inconstant is stress. Whatever is stress is not me, is not what I am, is not my self. This is the sort of view I have.”
“So, householder, whatever has been brought into being, is fabricated, willed, dependently originated, that is inconstant. Whatever is inconstant is stress. You thus adhere to that very stress, submit yourself to that very stress.”
“Venerable sirs, whatever has been brought into being, is fabricated, willed, dependently originated, that is inconstant. Whatever is inconstant is stress. Whatever is stress is not me, is not what I am, is not my self. Having seen this well with right discernment as it actually is present, I also discern the higher escape from it as it actually is present.”
When this had been said, the wanderers fell silent, abashed, sitting with their shoulders drooping, their heads down, brooding, at a loss for words. Anathapindika the householder, perceiving that the wanderers were silent, abashed… at a loss for words, got up & went to where the Blessed One was staying. On arrival, having bowed down to the Blessed One, he sat to one side. As he was seated there, he told the Blessed One the entirety of his conversation with the wanderers.
[The Blessed One said:] “Well done, householder. Well done. That is how you should periodically refute those foolish men with the Dhamma.” Then he instructed, urged, roused, and encouraged Anathapindika the householder with a talk on Dhamma. When Anathapindika the householder had been instructed, urged, roused and encouraged by the Blessed One with a talk on Dhamma, he got up from his seat and, having bowed down to the Blessed One, left, keeping the Blessed One on his right side. Not long afterward, the Blessed One addressed the monks: “Monks, even a monk who has long penetrated the Dhamma in this Doctrine and Discipline would do well to refute the wanderers of other persuasions with the Dhamma periodically in just the way Anathapindika the householder has done.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn Anàthapindika. Bấy giờ có Gia chủ Anàthapindika, vào buổi sáng thật sớm đi ra khỏi Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Rồi Gia chủ Anàthapindika suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn. Thế Tôn đang Thiền tịnh. Cũng không phải thời để yến kiến các vị Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo tu tập về ý đang Thiền tịnh. Vậy ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi Gia chủ Anàthapindika đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.
TTC 2Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Anàthapindika từ xa đi đến, khi thấy vậy liền dặn dò bảo với nhau: “Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả chớ có làm ồn, các Tôn giả. Gia chủ Anàthapindika này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, trong những đệ tử của Sa-môn Gotama có gia đình mặc áo trắng ở Sàvatthi, Gia chủ Anàthapindika là một trong những vị ấy. Các vị ấy ít ưa ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây”. Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng.
TTC 3Rồi Gia chủ Anàthapinidika đi đến các du sĩ đạo ấy, sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Anàthapidika đang ngồi một bên:
—Này Gia chủ, hãy nói lên Sa-môn Gotama có kiến gì?
—Thưa các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của Thế Tôn.
—Này Gia chủ, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama. Nhưng này Gia chủ, hãy nói các Tỷ-kheo có kiến gì?
—Thưa các Tôn giả, tôi không biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo.
—Này Gia chủ, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của Sa-môn Gotama, Gia chủ có thể không biết tất cả kiến của các Tỷ-kheo. Vậy này Gia chủ, hãy nói về kiến của Gia chủ.
—Thưa các Tôn giả, thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi. Nhưng các Tôn giả hãy trả lời về kiến của các Tôn giả trước. Rồi sau thật không khó gì để chúng tôi trả lời về kiến của chúng tôi.
TTC 4Khi được nói vậy, một du sĩ ngoại đạo nói với Gia chủ Anàthapindika: “Thường còn là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Một du sĩ ngoại đạo khác nói với Gia chủ Anàthapindika: “Vô thường là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Như vậy là kiến của tôi.” Rồi một du sĩ ngoại đạo khác nói với Gia chủ Anàthapindika: “Có biên tế là thế giới… không có biên tế là thế giới… mạng sống và thân thể là một… mạng sống và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại sau khi chết… Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không không có tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”.
TTC 5Khi nghe nói vậy, Gia chủ Anàthapindika nói với các du sĩ ngoại đạo ấy:
—Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: “Thường còn là thế giới. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hay do duyên nghe tiếng người khác nói. Kiến ấy như vậy được sanh, được tác thành (hữu vi) do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp trước (dính vào); cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp nhận. Thưa các Tôn giả, Tôn giả nào nói như sau: “Vô thường là thế giới này… có biên tế là thế giới này… không biên tế là thế giới này…sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại sau khi chết… Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng. Này Gia chủ, như vậy là kiến của tôi”. Kiến này của Tôn giả ấy, hoặc nhân tự mình tác ý không hợp lý, hoặc do duyên nghe tiếng người khác nói. Kiến như vậy được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên. Và cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên khởi lên, cái ấy là vô thường; cái gì vô thường, cái ấy là khổ; cái (khổ) ấy, Tôn giả chấp trước; cái khổ ấy, Tôn giả chấp nhận.
TTC 6Khi được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Anàthapindika:
—Này Gia chủ, tất cả kiến của chúng tôi đã được nói lên. Này Gia chủ, hãy nói lên kiến của Gia chủ là gì?
—Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy là “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.” Tôi có kiến như vậy, thưa các Tôn giả.
—Này Gia chủ, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì là khổ, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp trước, cái ấy, này Gia chủ, Gia chủ lại chấp nhận.
—Thưa các Tôn giả, phàm cái gì được sanh, được tác thành, do tâm suy tư, do duyên được khởi lên, cái ấy là vô thường. Cái gì vô thường, cái ấy là khổ. Cái gì khổ, cái ấy là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Như vậy là như thật khéo thấy với chánh trí tuệ. Và từ nơi khổ ấy, tôi như thật rõ biết sự xuất ly hơn thế nữa.
Khi nghe nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy ngồi im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói lên lời.
TTC 7Rồi Gia chủ Anàthapinika, sau khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói lên lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Gia chủ Anàthapindika, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào, đều thuật lại tất cả cho Thế Tôn rõ.
—“Lành thay, lành thay, này Gia chủ. Như vậy, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường cần phải được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp”. Rồi Thế Tôn với một bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Gia chủ Anàthapindika. Rồi Gia chủ Anàthapindika, sau khi được Thế Tôn với bài pháp thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 8Rồi Thế Tôn, sau khi Gia chủ Anàthapindika ra đi không bao lâu, bảo các vị Tỷ-kheo:
—Tỷ-kheo nào dầu đã được đầy đủ 100 năm an cư mùa mưa trong Pháp và Luật này, vị ấy cần phải như vậy, thường thường bác bỏ các du sĩ ngoại đạo, với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp, như Gia chủ Anàhtapindika đã khéo bác bỏ.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati divā divassa sāvatthiyā nikkhami bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa etadahosi:
“akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya.
Paṭisallīno bhagavā.
Manobhāvanīyānampi bhikkhūnaṁ akālo dassanāya.
Paṭisallīnā manobhāvanīyā bhikkhū.
Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena aññatitthiyā paribbājakā saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā nisinnā honti.
Addasaṁsu kho te aññatitthiyā paribbājakā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna aññamaññaṁ saṇṭhāpesuṁ:
“appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha.
Ayaṁ anāthapiṇḍiko gahapati ārāmaṁ āgacchati samaṇassa gotamassa sāvako.
Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā sāvatthiyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro anāthapiṇḍiko gahapati.
Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino.
Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Atha kho te aññatitthiyā paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena te aññatitthiyā paribbājakā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhiko samaṇo gotamo”ti?
“Na kho ahaṁ, bhante, bhagavato sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāmī”ti.
“Iti kira tvaṁ, gahapati, na samaṇassa gotamassa sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi;
vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikā bhikkhū”ti?
“Bhikkhūnampi kho ahaṁ, bhante, na sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāmī”ti.
“Iti kira tvaṁ, gahapati, na samaṇassa gotamassa sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi napi bhikkhūnaṁ sabbaṁ diṭṭhiṁ jānāsi;
vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikosi tuvan”ti?
“Etaṁ kho, bhante, amhehi na dukkaraṁ byākātuṁ yaṁdiṭṭhikā mayaṁ.
Iṅgha tāva āyasmanto yathāsakāni diṭṭhigatāni byākarontu, pacchāpetaṁ amhehi na dukkaraṁ bhavissati byākātuṁ yaṁdiṭṭhikā mayan”ti.
Evaṁ vutte, aññataro paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
Aññataropi kho paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
Aññataropi kho paribbājako anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“antavā loko …pe…
anantavā loko …
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī”ti.
Evaṁ vutte, anāthapiṇḍiko gahapati te paribbājake etadavoca:
“yvāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha:
‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti,
imassa ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā.
Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā.
Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato.
Yopāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha:
‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti,
imassāpi ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā.
Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā.
Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato.
Yopāyaṁ, bhante, āyasmā evamāha:
‘antavā loko …pe…
anantavā loko …
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññanti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, gahapatī’ti,
imassāpi ayamāyasmato diṭṭhi attano vā ayonisomanasikārahetu uppannā paratoghosapaccayā vā.
Sā kho panesā diṭṭhi bhūtā saṅkhatā cetayitā paṭiccasamuppannā.
Yaṁ kho pana kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
Yaṁ dukkhaṁ tadeveso āyasmā allīno, tadeveso āyasmā ajjhupagato”ti.
Evaṁ vutte te paribbājakā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ etadavocuṁ:
“byākatāni kho, gahapati, amhehi sabbeheva yathāsakāni diṭṭhigatāni.
Vadehi, gahapati, kiṁdiṭṭhikosi tuvan”ti?
“Yaṁ kho, bhante, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
‘Yaṁ dukkhaṁ taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—
evaṁdiṭṭhiko ahaṁ, bhante”ti.
“Yaṁ kho, gahapati, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
Yaṁ dukkhaṁ tadeva tvaṁ, gahapati, allīno, tadeva tvaṁ, gahapati, ajjhupagato”ti.
“Yaṁ kho, bhante, kiñci bhūtaṁ saṅkhataṁ cetayitaṁ paṭiccasamuppannaṁ tadaniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ.
‘Yaṁ dukkhaṁ taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, nameso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ.
Tassa ca uttari nissaraṇaṁ yathābhūtaṁ pajānāmī”ti.
Evaṁ vutte te paribbājakā tuṇhībhūtā maṅkubhūtā pattakkhandhā adhomukhā pajjhāyantā appaṭibhānā nisīdiṁsu.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati te paribbājake tuṇhībhūte maṅkubhūte pattakkhandhe adhomukhe pajjhāyante appaṭibhāne viditvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho anāthapiṇḍiko gahapati yāvatako ahosi tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Sādhu sādhu, gahapati.
Evaṁ kho te, gahapati, moghapurisā kālena kālaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetabbā”ti.
Atha kho bhagavā anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante anāthapiṇḍike gahapatimhi bhikkhū āmantesi:
“yopi so, bhikkhave, bhikkhu vassasatupasampanno imasmiṁ dhammavinaye, sopi evamevaṁ aññatitthiye paribbājake sahadhammena suniggahitaṁ niggaṇheyya yathā taṁ anāthapiṇḍikena gahapatinā niggahitā”ti.
Tatiyaṁ.