TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Campà, trên bờ hồ Gaggarà. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Vị ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, tránh né vấn đề với một vấn đề khác, hướng câu chuyện ra ngoài, và hiện tướng phẫn nộ, sân hận và bất mãn. Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, hãy đuổi người này ra! Này các Tỷ-kheo, hãy tẩn xuất người này ra! Này các Tỷ-kheo, người này đáng bị khai trừ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy phạm tội, họ biết người này là như sau: “Người này là Sa-môn ô uế, họ là Sa-môn rơm rạ, là Sa-môn rác rưởi. Khi biết như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì sao? Chớ để cho người ấy làm ô uế các Tỷ kheo hiền thiện khác.
TTC 3Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một ruộng lúa mì đã đầy đủ cây lúa mì ô nhiễm, cây lúa mì rơm rạ, cây lúa mì rác rưởi được mọc lên với rễ như vậy, giống như các cây lúa mì hiền thiện khác. Với cành lá như vậy, giống như những cây lúa mì hiền thiện khác; Với lá là như vậy, giống như những cây lúa mì hiền thiện khác, cho đến khi nào đầu ngọn lúa chưa mọc ra. Khi đầu ngọn lúa mọc ra, họ biết: “Ðây là cây lúa mì hoang, đây là cây lúa mì rơm rạ, cây lúa mì rác rưởi”. Sau khi biết như vậy, họ nhổ cây lúa mì ấy lên, luôn cả rễ, và quăng cây lúa mì ấy ra khỏi ruộng lúa. Vì cớ sao? Họ nói: “Ðừng để cho cây lúa mì làm uế nhiễm các cây lúa mì hiền thiện khác”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn giả hiệu, Sa-môn rơm, Sa-môn rác”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
TTC 4Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một đống lúa lớn đang được sàng quạt, tại đấy, các hột lúa nào chắc cứng, có hạt, chúng được chất thành đống một bên; còn những hạt lúa nào yếu kém, chỉ là rơm, thời được gió thổi tạt qua một bên, và người chủ, với cây chổi, quét chúng còn xa hơn nữa. Vì cớ sao? “Chớ để cho lúa ấy làm uế nhiễm các hạt lúa hiền thiện khác “.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi nào các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn ô uế, Sa-môn rơm rạ, Sa-môn rác rưởi”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
TTC 5Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần một số ống nước, lấy một cây búa sắc bén và đi vào rừng, và với cán cây búa ấy, gõ vào thân cây này hay thân cây khác. Ở đây, những cây nào chắc cứng, có lõi, khi được cán búa gõ vào, tiếng vang dội được tròn cứng. Còn những cây nào ở giữa bị mục nát, không có lõi (đầy ứ bất tịnh) nhơ bẩn, khi được cán búa gõ vào, tiếng vang dội lép xẹp. Người ấy chặt cây ấy, chặt gốc ; sau khi chặt gốc, người ấy chặt ngọn; sau khi chặt ngọn, người ấy rửa phía trong của cây cho thật sạch; khi rửa phía trong cho thật sạch rồi, người ấy nối liền các ống ấy lại.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn giả hiệu, Sa-môn rơm rạ, Sa-môn rác rưởi”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
Thầy có thể biết được
Người này Thầy chung sống
Ái dục và phẫn nộ
Dèm pha và ngoan cố
Não hại và tật đố
Xan tham và man trá
Nói nhu hòa giữa người
Nói như lời Sa-môn
Che giấu, làm việc ác
Ác kiến, thiếu kính trọng
Quanh co và nói láo
Biết vậy, người làm gì?
Tất cả phải đồng tình
Cùng tránh né người ấy
Hãy tẩn xuất rơm rác
Hãy tống cổ uế trược
Từ nay hãy đuổi xa
Kẻ nói nhiều vô ích
Không phải là Sa-môn
Nhưng hiện tướng Sa-môn
Tẩn xuất kẻ ác dục
Ác hạnh, ác uy nghi
Sống với người thanh tịnh
Sống trong sạch chánh niệm
Hòa hợp biết khôn khéo
Hãy chấm dứt khổ đau.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā campāyaṁ viharati gaggarāya pokkharaṇiyā tīre.
Tena kho pana samayena bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno aññenāññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“niddhamathetaṁ, bhikkhave, puggalaṁ;
niddhamathetaṁ, bhikkhave, puggalaṁ.
Apaneyyeso, bhikkhave, puggalo.
Kiṁ vo tena paraputtena visodhitena.
Idha, bhikkhave, ekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—
yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti.
Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Seyyathāpi, bhikkhave, sampanne yavakaraṇe yavadūsī jāyetha yavapalāpo yavakāraṇḍavoti.
Tassa tādisaṁyeva mūlaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ;
tādisaṁyeva nāḷaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ;
tādisaṁyeva pattaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ—
yāvassa sīsaṁ na nibbattati.
Yato ca khvassa sīsaṁ nibbattati, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘yavadūsīvāyaṁ yavapalāpo yavakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā samūlaṁ uppāṭetvā bahiddhā yavakaraṇassa chaḍḍenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake yave dūsesīti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—
yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti.
Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahato dhaññarāsissa phuṇamānassa tattha yāni tāni dhaññāni daḷhāni sāravantāni tāni ekamantaṁ puñjaṁ hoti, yāni pana tāni dhaññāni dubbalāni palāpāni tāni vāto ekamantaṁ apavahati.
Tamenaṁ sāmikā sammajjaniṁ gahetvā bhiyyoso mattāya apasammajjanti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake dhaññe dūsesīti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—
yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti.
Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso udapānapanāḷiyatthiko tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya.
So yaṁ yadeva rukkhaṁ kuṭhāripāsena ākoṭeyya tattha yāni tāni rukkhāni daḷhāni sāravantāni tāni kuṭhāripāsena ākoṭitāni kakkhaḷaṁ paṭinadanti;
yāni pana tāni rukkhāni antopūtīni avassutāni kasambujātāni tāni kuṭhāripāsena ākoṭitāni daddaraṁ paṭinadanti.
Tamenaṁ mūle chindati, mūle chinditvā agge chindati, agge chinditvā anto suvisodhitaṁ visodheti, anto suvisodhitaṁ visodhetvā udapānapanāḷiṁ yojeti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—
yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti.
Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Saṁvāsāyaṁ vijānātha,
pāpiccho kodhano iti;
Makkhī thambhī paḷāsī ca,
issukī maccharī saṭho.
Santavāco janavati,
samaṇo viya bhāsati;
Raho karoti karaṇaṁ,
pāpadiṭṭhi anādaro.
Saṁsappī ca musāvādī,
taṁ viditvā yathātathaṁ;
Sabbe samaggā hutvāna,
abhinibbajjayātha naṁ.
Kāraṇḍavaṁ niddhamatha,
Kasambuṁ apakassatha;
Tato palāpe vāhetha,
Assamaṇe samaṇamānine.
Niddhamitvāna pāpicche,
pāpaācāragocare;
Suddhāsuddhehi saṁvāsaṁ,
kappayavho patissatā;
Tato samaggā nipakā,
dukkhassantaṁ karissathā”ti.
Dasamaṁ.
Mettāvaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Mettaṁ paññā ca dve piyā,
dve lokā dve vipattiyo;
Devadatto ca uttaro,
nando kāraṇḍavena cāti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Campā on a bank of the Gaggārā Lotus Pond. Now on that occasion bhikkhus were reproving a bhikkhu for an offense. When being reproved, that bhikkhu answered evasively, diverted the discussion to an irrelevant subject, and displayed anger, hatred, and resentment. Then the Blessed One addressed the bhikkhus: an.iv.169 “Bhikkhus, eject this person! Bhikkhus, eject this person! This person should be banished. Why should another’s son vex you?
SC 2“Here, bhikkhus, so long as the bhikkhus do not see his offense, a certain person has the same manner (1) of going forward and (2) returning, (3) of looking ahead and (4) looking aside, (5) of bending and (6) stretching his limbs, and (7) of wearing his robes and (8) carrying his outer robe and bowl as the good bhikkhus. When, however, they see his offense, they know him as a corruption among ascetics, just chaff and trash among ascetics. Then they expel him. For what reason? So that he doesn’t corrupt the good bhikkhus.
SC 3“Suppose that when a field of barley is growing, some blighted barley would appear that would be just chaff and trash among the barley. As long as its head has not come forth, its roots would be just like those of the other crops, the good barley; its stem would be just like that of the other crops, the good barley; its leaves would be just like those of the other crops, the good barley. When, however, its head comes forth, they know it as blighted barley, just chaff an.iv.170 and trash among the barley. Then they pull it up by the root and cast it out from the barley field. For what reason? So that it doesn’t spoil the good barley.
SC 4“So too, so long as the bhikkhus do not see his offense, a certain person here has the same manner of going forward … and carrying his outer robe and bowl as the good bhikkhus. When, however, they see his offense, they know him as a corruption among ascetics, just chaff and trash among ascetics. Then they expel him. For what reason? So that he doesn’t corrupt the good bhikkhus.
SC 5“Suppose that when a large heap of grain is being winnowed, the grains that are firm and pithy form a pile on one side, and the wind blows the spoiled grains and chaff to another side. Then the owners take a broom and sweep them even further away. For what reason? So that they don’t spoil the good grain.
SC 6“So too, so long as the bhikkhus do not see his offense, a certain person here has the same manner of going forward … and carrying his outer robe and bowl as the others, the good bhikkhus. When, however, the bhikkhus see his offense, they know him as an.iv.171 a corruption among ascetics, just chaff and trash among ascetics. Then they expel him. For what reason? So that he doesn’t corrupt the good bhikkhus.
SC 7“Suppose a man needs a gutter for a well. He would take a sharp axe and enter the woods. He would strike a number of trees with the blade of his axe. When so struck, the firm and pithy trees would give off a dull sound, but those that are inwardly rotten, corrupt, and decayed would give off a hollow sound. The man would cut this tree down at its foot, cut off the crown, thoroughly clean it out, and use it as a gutter for a well.
SC 8“So too, bhikkhus, so long as the bhikkhus do not see his offense, a certain person here has the same manner of going forward and returning, of looking ahead and looking aside, of bending and stretching his limbs, of wearing his robes and carrying his outer robe and bowl, as the good bhikkhus. When, however, the bhikkhus see his offense, they know him as a corruption among ascetics, just chaff and trash among ascetics. Then they expel him. For what reason? So that he doesn’t corrupt the good bhikkhus.” an.iv.172
SC 9By living together with him, know him as
an angry person with evil desires;
a denigrator, obstinate, and insolent,
envious, miserly, and deceptive.
SC 10He speaks to people just like an ascetic,
addressing them with a calm voice,
but secretly he does evil deeds,
holds pernicious views, and lacks respect.
SC 11Though he is devious, a speaker of lies,
you should know him as he truly is;
then you should all meet in harmony
and firmly drive him away.
SC 12Get rid of the trash!
Remove the depraved fellows!
Sweep the chaff away, non-ascetics
who think themselves ascetics!
SC 13Having banished those of evil desires,
of bad conduct and resort,
dwell in communion, ever mindful,
the pure with the pure;
then, in harmony, alert,
you will make an end of suffering.
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Campà, trên bờ hồ Gaggarà. Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo phạm tội. Vị ấy bị các Tỷ-kheo buộc tội, tránh né vấn đề với một vấn đề khác, hướng câu chuyện ra ngoài, và hiện tướng phẫn nộ, sân hận và bất mãn. Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, hãy đuổi người này ra! Này các Tỷ-kheo, hãy tẩn xuất người này ra! Này các Tỷ-kheo, người này đáng bị khai trừ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy phạm tội, họ biết người này là như sau: “Người này là Sa-môn ô uế, họ là Sa-môn rơm rạ, là Sa-môn rác rưởi. Khi biết như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì sao? Chớ để cho người ấy làm ô uế các Tỷ kheo hiền thiện khác.
TTC 3Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một ruộng lúa mì đã đầy đủ cây lúa mì ô nhiễm, cây lúa mì rơm rạ, cây lúa mì rác rưởi được mọc lên với rễ như vậy, giống như các cây lúa mì hiền thiện khác. Với cành lá như vậy, giống như những cây lúa mì hiền thiện khác; Với lá là như vậy, giống như những cây lúa mì hiền thiện khác, cho đến khi nào đầu ngọn lúa chưa mọc ra. Khi đầu ngọn lúa mọc ra, họ biết: “Ðây là cây lúa mì hoang, đây là cây lúa mì rơm rạ, cây lúa mì rác rưởi”. Sau khi biết như vậy, họ nhổ cây lúa mì ấy lên, luôn cả rễ, và quăng cây lúa mì ấy ra khỏi ruộng lúa. Vì cớ sao? Họ nói: “Ðừng để cho cây lúa mì làm uế nhiễm các cây lúa mì hiền thiện khác”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn giả hiệu, Sa-môn rơm, Sa-môn rác”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
TTC 4Ví như, này các Tỷ-kheo, khi một đống lúa lớn đang được sàng quạt, tại đấy, các hột lúa nào chắc cứng, có hạt, chúng được chất thành đống một bên; còn những hạt lúa nào yếu kém, chỉ là rơm, thời được gió thổi tạt qua một bên, và người chủ, với cây chổi, quét chúng còn xa hơn nữa. Vì cớ sao? “Chớ để cho lúa ấy làm uế nhiễm các hạt lúa hiền thiện khác “.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi nào các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn ô uế, Sa-môn rơm rạ, Sa-môn rác rưởi”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
TTC 5Ví như, này các Tỷ-kheo, một người cần một số ống nước, lấy một cây búa sắc bén và đi vào rừng, và với cán cây búa ấy, gõ vào thân cây này hay thân cây khác. Ở đây, những cây nào chắc cứng, có lõi, khi được cán búa gõ vào, tiếng vang dội được tròn cứng. Còn những cây nào ở giữa bị mục nát, không có lõi (đầy ứ bất tịnh) nhơ bẩn, khi được cán búa gõ vào, tiếng vang dội lép xẹp. Người ấy chặt cây ấy, chặt gốc ; sau khi chặt gốc, người ấy chặt ngọn; sau khi chặt ngọn, người ấy rửa phía trong của cây cho thật sạch; khi rửa phía trong cho thật sạch rồi, người ấy nối liền các ống ấy lại.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, khi nào một người đi ra, đi vào, nhìn lên, nhìn xung quanh, co tay, duỗi tay, mang y sanghàti, bát và y, như vậy, như các Tỷ-kheo hiền thiện khác, cho đến khi các Tỷ-kheo không thấy người ấy phạm tội. Nhưng khi các Tỷ-kheo thấy người ấy phạm tội, họ biết được: “Người này là Sa-môn giả hiệu, Sa-môn rơm rạ, Sa-môn rác rưởi”. Sau khi biết người ấy là như vậy, họ đuổi người ấy ra ngoài. Vì cớ sao? “Chớ để cho người ấy làm uế nhiễm các Tỷ kheo hiền thiện khác “.
Thầy có thể biết được
Người này Thầy chung sống
Ái dục và phẫn nộ
Dèm pha và ngoan cố
Não hại và tật đố
Xan tham và man trá
Nói nhu hòa giữa người
Nói như lời Sa-môn
Che giấu, làm việc ác
Ác kiến, thiếu kính trọng
Quanh co và nói láo
Biết vậy, người làm gì?
Tất cả phải đồng tình
Cùng tránh né người ấy
Hãy tẩn xuất rơm rác
Hãy tống cổ uế trược
Từ nay hãy đuổi xa
Kẻ nói nhiều vô ích
Không phải là Sa-môn
Nhưng hiện tướng Sa-môn
Tẩn xuất kẻ ác dục
Ác hạnh, ác uy nghi
Sống với người thanh tịnh
Sống trong sạch chánh niệm
Hòa hợp biết khôn khéo
Hãy chấm dứt khổ đau.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā campāyaṁ viharati gaggarāya pokkharaṇiyā tīre.
Tena kho pana samayena bhikkhū bhikkhuṁ āpattiyā codenti.
So bhikkhu bhikkhūhi āpattiyā codiyamāno aññenāññaṁ paṭicarati, bahiddhā kathaṁ apanāmeti, kopañca dosañca appaccayañca pātukaroti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“niddhamathetaṁ, bhikkhave, puggalaṁ;
niddhamathetaṁ, bhikkhave, puggalaṁ.
Apaneyyeso, bhikkhave, puggalo.
Kiṁ vo tena paraputtena visodhitena.
Idha, bhikkhave, ekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—
yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti.
Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Seyyathāpi, bhikkhave, sampanne yavakaraṇe yavadūsī jāyetha yavapalāpo yavakāraṇḍavoti.
Tassa tādisaṁyeva mūlaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ;
tādisaṁyeva nāḷaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ;
tādisaṁyeva pattaṁ hoti, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ yavānaṁ—
yāvassa sīsaṁ na nibbattati.
Yato ca khvassa sīsaṁ nibbattati, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘yavadūsīvāyaṁ yavapalāpo yavakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā samūlaṁ uppāṭetvā bahiddhā yavakaraṇassa chaḍḍenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake yave dūsesīti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—
yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti.
Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Seyyathāpi, bhikkhave, mahato dhaññarāsissa phuṇamānassa tattha yāni tāni dhaññāni daḷhāni sāravantāni tāni ekamantaṁ puñjaṁ hoti, yāni pana tāni dhaññāni dubbalāni palāpāni tāni vāto ekamantaṁ apavahati.
Tamenaṁ sāmikā sammajjaniṁ gahetvā bhiyyoso mattāya apasammajjanti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake dhaññe dūsesīti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—
yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti.
Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso udapānapanāḷiyatthiko tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya vanaṁ paviseyya.
So yaṁ yadeva rukkhaṁ kuṭhāripāsena ākoṭeyya tattha yāni tāni rukkhāni daḷhāni sāravantāni tāni kuṭhāripāsena ākoṭitāni kakkhaḷaṁ paṭinadanti;
yāni pana tāni rukkhāni antopūtīni avassutāni kasambujātāni tāni kuṭhāripāsena ākoṭitāni daddaraṁ paṭinadanti.
Tamenaṁ mūle chindati, mūle chinditvā agge chindati, agge chinditvā anto suvisodhitaṁ visodheti, anto suvisodhitaṁ visodhetvā udapānapanāḷiṁ yojeti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekaccassa puggalassa tādisaṁyeva hoti abhikkantaṁ paṭikkantaṁ ālokitaṁ vilokitaṁ samiñjitaṁ pasāritaṁ saṅghāṭipattacīvaradhāraṇaṁ, seyyathāpi aññesaṁ bhaddakānaṁ bhikkhūnaṁ—
yāvassa bhikkhū āpattiṁ na passanti.
Yato ca khvassa bhikkhū āpattiṁ passanti, tamenaṁ evaṁ jānanti:
‘samaṇadūsīvāyaṁ samaṇapalāpo samaṇakāraṇḍavo’ti.
Tamenaṁ iti viditvā bahiddhā nāsenti.
Taṁ kissa hetu?
Mā aññe bhaddake bhikkhū dūsesīti.
Saṁvāsāyaṁ vijānātha,
pāpiccho kodhano iti;
Makkhī thambhī paḷāsī ca,
issukī maccharī saṭho.
Santavāco janavati,
samaṇo viya bhāsati;
Raho karoti karaṇaṁ,
pāpadiṭṭhi anādaro.
Saṁsappī ca musāvādī,
taṁ viditvā yathātathaṁ;
Sabbe samaggā hutvāna,
abhinibbajjayātha naṁ.
Kāraṇḍavaṁ niddhamatha,
Kasambuṁ apakassatha;
Tato palāpe vāhetha,
Assamaṇe samaṇamānine.
Niddhamitvāna pāpicche,
pāpaācāragocare;
Suddhāsuddhehi saṁvāsaṁ,
kappayavho patissatā;
Tato samaggā nipakā,
dukkhassantaṁ karissathā”ti.
Dasamaṁ.
Mettāvaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Mettaṁ paññā ca dve piyā,
dve lokā dve vipattiyo;
Devadatto ca uttaro,
nando kāraṇḍavena cāti.