TTC 1—Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là giống như Phạm thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là giống như bậc Ðạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy, này các Tỷ-kheo, được xem là giống như chư Thiên thời trước. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là đáng được cúng dường.
TTC 2Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; các bậc Ðạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; chư Thiên thuở xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; đáng được cung kính cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì mẹ cha giúp đỡ rất nhiều cho các con, nuôi dưỡng chúng lớn và giới thiệu chúng vào đời này.
Mẹ cha gọi Phạm thiên,
Bậc Ðạo sư thời trước,
Xứng đáng được cúng dường,
Vì thương đến con cháu,
Do vậy bậc Hiền sĩ,
Ðảnh lễ và tôn trọng,
Dâng đồ ăn đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Thoa bóp cả thân mình,
Tắm rửa cả chân tay.
Với sở hành như vậy,
Ðối với mẹ và cha,
Ðời này người hiền khen,
Ðời sau hưởng Thiên lạc.
“Sabrahmakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbācariyakāni, bhikkhave, tāni kulāni, yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbadevatāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sāhuneyyakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Brahmāti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Pubbācariyāti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Pubbadevatāti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Āhuneyyāti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Bahukārā, bhikkhave, mātāpitaro, puttānaṁ āpādakā posakā imassa lokassa dassetāroti.
Brahmāti mātāpitaro,
pubbācariyāti vuccare;
Āhuneyyā ca puttānaṁ,
pajāya anukampakā.
Tasmā hi ne namasseyya,
sakkareyya ca paṇḍito;
Annena atha pānena,
vatthena sayanena ca;
Ucchādanena nhāpanena,
pādānaṁ dhovanena ca.
Tāya naṁ pāricariyāya,
mātāpitūsu paṇḍitā;
Idheva naṁ pasaṁsanti,
pecca sagge pamodatī”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicants, a family where the children honor their parents in their home is said to live with divinity.
A family where the children honor their parents in their home is said to live with the first tutors.
A family where the children honor their parents in their home is said to live with the elder gods.
A family where the children honor their parents in their home is said to live with those worthy of offerings dedicated to the gods.
‘Divinity’ is a term for your parents.
‘First tutors’ is a term for your parents.
‘Elder gods’ is a term for your parents.
‘Worthy of an offering dedicated to the gods’ is a term for your parents.
Why is that?
Parents are very helpful to their children, they raise them, nurture them, and show them the world.
Parents are said to be ‘Divinity’
and ‘first tutors’.
They’re worthy of offerings dedicated to the gods from their children,
for they love their offspring.
Therefore an astute person
would revere them and honor them
with food and drink,
clothes and bedding,
by anointing and bathing,
and by washing their feet.
Because they look after
their parents like this,
they’re praised in this life by the astute,
and they depart to rejoice in heaven.”
TTC 1—Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là giống như Phạm thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là giống như bậc Ðạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy, này các Tỷ-kheo, được xem là giống như chư Thiên thời trước. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, các cha mẹ được các con đảnh lễ cúng dường ở trong nhà, những gia đình ấy được xem là đáng được cúng dường.
TTC 2Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; các bậc Ðạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; chư Thiên thuở xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha; đáng được cung kính cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì mẹ cha giúp đỡ rất nhiều cho các con, nuôi dưỡng chúng lớn và giới thiệu chúng vào đời này.
Mẹ cha gọi Phạm thiên,
Bậc Ðạo sư thời trước,
Xứng đáng được cúng dường,
Vì thương đến con cháu,
Do vậy bậc Hiền sĩ,
Ðảnh lễ và tôn trọng,
Dâng đồ ăn đồ uống,
Vải mặc và giường nằm,
Thoa bóp cả thân mình,
Tắm rửa cả chân tay.
Với sở hành như vậy,
Ðối với mẹ và cha,
Ðời này người hiền khen,
Ðời sau hưởng Thiên lạc.
“Sabrahmakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbācariyakāni, bhikkhave, tāni kulāni, yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbadevatāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sāhuneyyakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Brahmāti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Pubbācariyāti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Pubbadevatāti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Āhuneyyāti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Bahukārā, bhikkhave, mātāpitaro, puttānaṁ āpādakā posakā imassa lokassa dassetāroti.
Brahmāti mātāpitaro,
pubbācariyāti vuccare;
Āhuneyyā ca puttānaṁ,
pajāya anukampakā.
Tasmā hi ne namasseyya,
sakkareyya ca paṇḍito;
Annena atha pānena,
vatthena sayanena ca;
Ucchādanena nhāpanena,
pādānaṁ dhovanena ca.
Tāya naṁ pāricariyāya,
mātāpitūsu paṇḍitā;
Idheva naṁ pasaṁsanti,
pecca sagge pamodatī”ti.
Tatiyaṁ.