TTC 1—Có sáu lợi ích, này các Tỷ-kheo, khi chứng ngộ quả Dự lưu. Thế nào là sáu?
TTC 2Sự quyết định đối với diệu pháp không có bị thối đọa; không có bị đau khổ; làm các việc bị sanh tử hạn chế; thành tựu trí tuệ; không cùng chia sẻ với các dị sanh; nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được khéo thấy.
Có sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, khi chứng ngộ quả Dự lưu.
“Chayime, bhikkhave, ānisaṁsā sotāpattiphalasacchikiriyāya.
Katame cha?
Saddhammaniyato hoti, aparihānadhammo hoti, pariyantakatassa dukkhaṁ hoti, asādhāraṇena ñāṇena samannāgato hoti, hetu cassa sudiṭṭho, hetusamuppannā ca dhammā.
Ime kho, bhikkhave, cha ānisaṁsā sotāpattiphalasacchikiriyāyā”ti.
Dutiyaṁ.
“Monks, there are these six rewards in realizing the fruit of stream-entry. Which six? One is certain of the true Dhamma. One is not subject to falling back. There is no suffering over what has had a limit placed on it. One is endowed with uncommon knowledge. One rightly sees cause, along with causally-originated phenomena.
“These are the six rewards in realizing the fruit of stream-entry.”
TTC 1—Có sáu lợi ích, này các Tỷ-kheo, khi chứng ngộ quả Dự lưu. Thế nào là sáu?
TTC 2Sự quyết định đối với diệu pháp không có bị thối đọa; không có bị đau khổ; làm các việc bị sanh tử hạn chế; thành tựu trí tuệ; không cùng chia sẻ với các dị sanh; nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được khéo thấy.
Có sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, khi chứng ngộ quả Dự lưu.
“Chayime, bhikkhave, ānisaṁsā sotāpattiphalasacchikiriyāya.
Katame cha?
Saddhammaniyato hoti, aparihānadhammo hoti, pariyantakatassa dukkhaṁ hoti, asādhāraṇena ñāṇena samannāgato hoti, hetu cassa sudiṭṭho, hetusamuppannā ca dhammā.
Ime kho, bhikkhave, cha ānisaṁsā sotāpattiphalasacchikiriyāyā”ti.
Dutiyaṁ.