TTC 1—Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, vào buổi chiều đi ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó duỗi thân mình và chân. Sau khi duỗi thân mình và chân, nó nhìn chung quanh bốn phương. Sau khi nhìn chung quanh bốn phương, nó rống lên tiếng rống con sư tử ba lần. Sau khi rống tiếng rống con sư tử ba lần, nó đi ra tìm mồi. Này các Tỷ-kheo, các loài thú thuộc loại bàng sanh nghe tiếng rống của con sư tử, vua các loài thú, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Các loài ở hang tìm vào hang. Các loài ở nước tìm xuống nước. Các loài ở rừng tìm vào rừng. Các loài chim bay lên hư không.
Này các Tỷ-kheo, các loài voi chúa ở tại làng, thị trấn hay thành phố, bị trói bởi các dây da cứng chắc, bứt đứt, giật đứt những sợi dây ấy, khiếp đảm cuồng chạy tung cả phân và nước tiểu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của con sư tử, vua các loài thú, đối với các loài bàng sanh, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, vị ấy thuyết pháp: “Ðây là thân, đây là thân tập khởi, đây là thân đoạn diệt, đây là con đường đưa đến thân diệt”. Này các Tỷ-kheo, có chư Thiên tuổi thọ dài, có dung sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Các chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm, họ nghĩ: “Chúng ta là vô thường, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta là không thường trú, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư Tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư Thiên, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thuyết giảng như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
TTC 3
Khi Phật với thắng trí,
Chuyển bánh xe Chánh pháp,
Cho Thiên giới, Nhân giới,
Bậc Ðạo Sư vô tỷ,
Sự đoạn diệt thân uẩn,
Sự hiện hữu thân uẩn
Và đường Thánh tám ngành,
Ðưa đến khổ diệt tận,
Chư Thiên được trường thọ,
Có dung sắc danh xưng,
Sanh khiếp đảm sợ hãi,
Như thú thấy sư tử,
Vì chưa thoát thân uẩn,
Nghe chúng ta vô thường,
Khi nghe lời Ứng Cúng,
Ðược giải thoát như vậy.
“Sīho, bhikkhave, migarājā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhamati.
Āsayā nikkhamitvā vijambhati.
Vijambhitvā samantā catuddisā anuviloketi.
Samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadati.
Tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkamati.
Ye kho pana te, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā sīhassa migarañño nadato saddaṁ suṇanti, te yebhuyyena bhayaṁ saṁvegaṁ santāsaṁ āpajjanti.
Bilaṁ bilāsayā pavisanti, dakaṁ dakāsayā pavisanti, vanaṁ vanāsayā pavisanti, ākāsaṁ pakkhino bhajanti.
Yepi te, bhikkhave, rañño nāgā gāmanigamarājadhānīsu daḷhehi varattehi bandhanehi baddhā, tepi tāni bandhanāni sañchinditvā sampadāletvā bhītā muttakarīsaṁ cajamānā yena vā tena vā palāyanti.
Evaṁ mahiddhiko kho, bhikkhave, sīho migarājā tiracchānagatānaṁ pāṇānaṁ, evaṁ mahesakkho evaṁ mahānubhāvo.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yadā tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā, so dhammaṁ deseti:
‘iti sakkāyo, iti sakkāyasamudayo, iti sakkāyanirodho, iti sakkāyanirodhagāminī paṭipadā’ti.
Yepi te, bhikkhave, devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā uccesu vimānesu ciraṭṭhitikā, tepi tathāgatassa dhammadesanaṁ sutvā yebhuyyena bhayaṁ saṁvegaṁ santāsaṁ āpajjanti:
‘aniccā vata kira, bho, mayaṁ samānā niccamhāti amaññimha;
addhuvā vata kira, bho, mayaṁ samānā dhuvamhāti amaññimha;
asassatā vata kira, bho, mayaṁ samānā sassatamhāti amaññimha.
Mayaṁ kira, bho, aniccā addhuvā asassatā sakkāyapariyāpannā’ti.
Evaṁ mahiddhiko kho, bhikkhave, tathāgato sadevakassa lokassa, evaṁ mahesakkho evaṁ mahānubhāvoti.
Yadā buddho abhiññāya,
dhammacakkaṁ pavattayī;
Sadevakassa lokassa,
satthā appaṭipuggalo.
Sakkāyañca nirodhañca,
sakkāyassa ca sambhavaṁ;
Ariyañcaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Yepi dīghāyukā devā,
vaṇṇavanto yasassino;
Bhītā santāsamāpāduṁ,
sīhassevitare migā.
Avītivattā sakkāyaṁ,
aniccā kira bho mayaṁ;
Sutvā arahato vākyaṁ,
vippamuttassa tādino”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, in the evening the lion, the king of beasts, comes out from his lair, stretches his body, surveys the four quarters all around, and roars his lion’s roar three times. Then he sets out in search of game.
SC 2“Whatever animals hear the lion roaring for the most part are filled with fear, a sense of urgency, and terror. Those who live in holes enter their holes; those who live in the water enter the water; those who live in the woods enter the woods; and the birds resort to the sky. Even those royal bull elephants, bound by strong thongs in the villages, towns, and capital cities, burst and break their bonds asunder; frightened, they urinate and defecate and flee here and there. So powerful among the animals is the lion, the king of beasts, so majestic and mighty.
SC 3“So too, bhikkhus, when the Tathāgata arises in the world, an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One, he teaches the Dhamma thus: ‘(1) Such is personal existence, (2) such the origin of personal existence, (3) such the cessation of personal existence, (4) such the way to the cessation of personal existence.’
SC 4“When those devas who are long-lived, beautiful, abounding in happiness, dwelling for a long time in lofty palaces, hear the Tathāgata’s teaching of the Dhamma, for the most part they are filled with fear, a sense of urgency, and terror thus: ‘It seems that we are actually impermanent, though we thought ourselves permanent; it seems that we are actually transient, though we thought ourselves everlasting; it seems that we are actually non-eternal, though we thought ourselves eternal. It seems that we are impermanent, transient, non-eternal, included in personal existence.’ So powerful is the Tathāgata, so majestic and mighty is he in this world together with its devas.” an.ii.34
SC 5When, through direct knowledge,
the Buddha, the teacher, the peerless person
in this world with its devas,
sets in motion the wheel of Dhamma,
he teaches personal existence, its cessation,
the origin of personal existence,
and the noble eightfold path
that leads to the calming down of suffering.
SC 6Then even those devas with long life spans—
beautiful, ablaze with glory—
become fearful and filled with terror,
like beasts who hear the lion’s roar.
“It seems that we are impermanent,
not beyond personal existence,” they say,
when they hear the word of the Arahant,
the Stable One who is fully freed.
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, con sư tử, vua các loài thú, vào buổi chiều đi ra khỏi hang. Sau khi ra khỏi hang, nó duỗi thân mình và chân. Sau khi duỗi thân mình và chân, nó nhìn chung quanh bốn phương. Sau khi nhìn chung quanh bốn phương, nó rống lên tiếng rống con sư tử ba lần. Sau khi rống tiếng rống con sư tử ba lần, nó đi ra tìm mồi. Này các Tỷ-kheo, các loài thú thuộc loại bàng sanh nghe tiếng rống của con sư tử, vua các loài thú, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Các loài ở hang tìm vào hang. Các loài ở nước tìm xuống nước. Các loài ở rừng tìm vào rừng. Các loài chim bay lên hư không.
Này các Tỷ-kheo, các loài voi chúa ở tại làng, thị trấn hay thành phố, bị trói bởi các dây da cứng chắc, bứt đứt, giật đứt những sợi dây ấy, khiếp đảm cuồng chạy tung cả phân và nước tiểu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của con sư tử, vua các loài thú, đối với các loài bàng sanh, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
TTC 2Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, vị ấy thuyết pháp: “Ðây là thân, đây là thân tập khởi, đây là thân đoạn diệt, đây là con đường đưa đến thân diệt”. Này các Tỷ-kheo, có chư Thiên tuổi thọ dài, có dung sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Các chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm, họ nghĩ: “Chúng ta là vô thường, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta là không thường trú, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư Tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là đại thần thông lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư Thiên, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Thuyết giảng như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
TTC 3
Khi Phật với thắng trí,
Chuyển bánh xe Chánh pháp,
Cho Thiên giới, Nhân giới,
Bậc Ðạo Sư vô tỷ,
Sự đoạn diệt thân uẩn,
Sự hiện hữu thân uẩn
Và đường Thánh tám ngành,
Ðưa đến khổ diệt tận,
Chư Thiên được trường thọ,
Có dung sắc danh xưng,
Sanh khiếp đảm sợ hãi,
Như thú thấy sư tử,
Vì chưa thoát thân uẩn,
Nghe chúng ta vô thường,
Khi nghe lời Ứng Cúng,
Ðược giải thoát như vậy.
“Sīho, bhikkhave, migarājā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhamati.
Āsayā nikkhamitvā vijambhati.
Vijambhitvā samantā catuddisā anuviloketi.
Samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadati.
Tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkamati.
Ye kho pana te, bhikkhave, tiracchānagatā pāṇā sīhassa migarañño nadato saddaṁ suṇanti, te yebhuyyena bhayaṁ saṁvegaṁ santāsaṁ āpajjanti.
Bilaṁ bilāsayā pavisanti, dakaṁ dakāsayā pavisanti, vanaṁ vanāsayā pavisanti, ākāsaṁ pakkhino bhajanti.
Yepi te, bhikkhave, rañño nāgā gāmanigamarājadhānīsu daḷhehi varattehi bandhanehi baddhā, tepi tāni bandhanāni sañchinditvā sampadāletvā bhītā muttakarīsaṁ cajamānā yena vā tena vā palāyanti.
Evaṁ mahiddhiko kho, bhikkhave, sīho migarājā tiracchānagatānaṁ pāṇānaṁ, evaṁ mahesakkho evaṁ mahānubhāvo.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yadā tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā, so dhammaṁ deseti:
‘iti sakkāyo, iti sakkāyasamudayo, iti sakkāyanirodho, iti sakkāyanirodhagāminī paṭipadā’ti.
Yepi te, bhikkhave, devā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā uccesu vimānesu ciraṭṭhitikā, tepi tathāgatassa dhammadesanaṁ sutvā yebhuyyena bhayaṁ saṁvegaṁ santāsaṁ āpajjanti:
‘aniccā vata kira, bho, mayaṁ samānā niccamhāti amaññimha;
addhuvā vata kira, bho, mayaṁ samānā dhuvamhāti amaññimha;
asassatā vata kira, bho, mayaṁ samānā sassatamhāti amaññimha.
Mayaṁ kira, bho, aniccā addhuvā asassatā sakkāyapariyāpannā’ti.
Evaṁ mahiddhiko kho, bhikkhave, tathāgato sadevakassa lokassa, evaṁ mahesakkho evaṁ mahānubhāvoti.
Yadā buddho abhiññāya,
dhammacakkaṁ pavattayī;
Sadevakassa lokassa,
satthā appaṭipuggalo.
Sakkāyañca nirodhañca,
sakkāyassa ca sambhavaṁ;
Ariyañcaṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Yepi dīghāyukā devā,
vaṇṇavanto yasassino;
Bhītā santāsamāpāduṁ,
sīhassevitare migā.
Avītivattā sakkāyaṁ,
aniccā kira bho mayaṁ;
Sutvā arahato vākyaṁ,
vippamuttassa tādino”ti.
Tatiyaṁ.