TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Dandakappaka. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, ngồi xuống trên chỗ đã được sửa soạn dưới một gốc cây; còn các Tỷ-kheo ấy đi vào Dandakappaka để tìm chỗ ở. Bấy giờ Tôn giả Ananda cùng với một số đông Tỷ-kheo, đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một y để phơi tay chân cho khô.
TTC 2Rồi một Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, thưa với Tôn giả Ananda:
—Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được” hay có phải nhờ một Thiên nhân?
—Thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố.
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, với một số đông Tỷ-kheo, con đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo đi đến con, sau khi đến thưa với con: “Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được' hay có phải nhờ một Thiên nhân? “
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời Tỷ-kheo ấy: “Thưa Hiền giả, thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố”.
—Này Ananda, hoặc Tỷ-kheo ấy là vị tân nhập, xuất gia chưa được bao lâu, hay vị ấy là Tỷ-kheo trưởng lão ngu si, không thông minh. Làm sao khi ta đã tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp thứ hai được? Ta không thể thấy về một người nào khác, này Ananda, sau khi tập trung tất cả tâm, Ta đã tuyên bố như vậy, trừ với Devadatta! Cho đến khi nào, này Ananda, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được”. Cho đến khi nào, này Ananda, Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Davadatta, cho nên Ta đã tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được”. Ví như, này Ananda, một hố phân cao hơn đầu người, đầy cả phân, và một người rơi vào hố phân cho đến cả đầu. Rồi một người khác đi đến, muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy. Người này đi vòng quanh hố phân và không thấy cho đến một điểm nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở người ấy mà không bị dính phân, để có thể nắm lấy chỗ ấy và kéo lên. Cũng vậy, này Ananda, cho đến khi nào, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được”. Nếu thầy muốn nghe, này Ananda, Như Lai sẽ phân tích về căn trí của con người.
—Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thiên Thệ, để Thế Tôn phân tích các căn trí của con người, sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 3—Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và pháp thiện sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy”. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể biết những hột giống này sẽ được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu. Nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và thiện pháp sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy”. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 4Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt và các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy”. Như vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất đầy sỏi đá. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này sẽ không có thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng cội gốc của pháp bất thiện chưa được cắt đứt và các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy. Như vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai”. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, đã biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 5Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Ví như, này Ananda, các hột giống bị bể vụn, bị hư thối, bị gió và sức nóng phá hoại, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này không thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, và những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có thể tuyên bố ba hạng người khác đồng loại với ba người này hay không?
—Có thể được, này Ananda.
Thế Tôn nói như sau:
TTC 6—Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện khởi; và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt và nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa trong tương lai”. Ví như, này Ananda, các cục than cháy đỏ, rực cháy, cháy lửa ngọn, được quăng trên đất sỏi. Này Ananda, Thầy có biết không, đống than này không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Ví như, này Ananda, vào buổi chiều, mặt trời đang lặn, Thầy có thể biết được chăng, này Ananda, biết rằng: “Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Ví như, này Ananda, khi đêm đã qua một phần, trong thời gian ăn cơm, Thầy có biết chăng, này Ananda, biết rằng: “Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy, biết rằng: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện khởi. Và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt, đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa trong tương lai”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người, với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 7Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối đọa trong tương lai”. Ví như, này Ananda, đống than cháy đỏ, rực cháy, cháy lửa ngọn, quăng trên một đống cỏ khô, hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống than này sẽ được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Ví như, này Ananda, đêm đã gần mãn, mặt trời đang mọc; này Ananda, Thầy có biết chăng bóng tối sắp sửa biến mất, ánh sáng sẽ hiện ra”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Ví như, này Ananda, trong một thời gian sau, vào giữa trưa, vào giờ ăn cơm, Thầy có biết chăng, này Ananda, bóng tối đã biến mất, ánh sáng đã hiện ra”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện được hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối đọa trong tương lai”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 8Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này không có pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn”. Ví như, này Ananda, những cục than nguội lạnh, đã dập tắt, bị quăng trên đống cỏ hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống than này không thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Cũng vậy, ở đây này Aụnanda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này không có pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn”. Như vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được căn trí của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
Ở đây, này Ananda, ba hạng người trước, một trong ba người ấy không phải bị thối đọa, một phải bị thối đọa, một bị rơi vào đọa xứ, địa ngục. Ở đây, này Ananda, trong ba hạng người sau, một trong ba hạng người này không phải bị thối đọa, một phải bị thối đọa, một được nhập Niết-bàn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena daṇḍakappakaṁ nāma kosalānaṁ nigamo tadavasari.
Atha kho bhagavā maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle paññatte āsane nisīdi.
Te ca bhikkhū daṇḍakappakaṁ pavisiṁsu āvasathaṁ pariyesituṁ.
Atha kho āyasmā ānando sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena aciravatī nadī tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ.
Aciravatiyā nadiyā gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.
Atha kho aññataro bhikkhu yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso ānanda, sabbaṁ cetaso samannāharitvā nu kho devadatto bhagavatā byākato:
‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti, udāhu kenacideva pariyāyenāti?
Evaṁ kho panetaṁ, āvuso, bhagavatā byākatan”ti.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“idhāhaṁ, bhante, sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena aciravatī nadī tenupasaṅkamiṁ gattāni parisiñcituṁ.
Aciravatiyā nadiyā gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsiṁ gattāni pubbāpayamāno.
Atha kho, bhante, aññataro bhikkhu yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ etadavoca:
‘kiṁ nu kho, āvuso ānanda, sabbaṁ cetaso samannāharitvā nu kho devadatto bhagavatā byākato—
āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekicchoti, udāhu kenacideva pariyāyenā’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘evaṁ kho panetaṁ, āvuso, bhagavatā byākatan’”ti.
“So vā kho, ānanda, bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito, thero vā pana bālo abyatto.
Kathañhi nāma yaṁ mayā ekaṁsena byākataṁ tattha dvejjhaṁ āpajjissati.
Nāhaṁ, ānanda, aññaṁ ekapuggalampi samanupassāmi, yo evaṁ mayā sabbaṁ cetaso samannāharitvā byākato, yathayidaṁ devadatto.
Yāvakīvañcāhaṁ, ānanda, devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ addasaṁ;
neva tāvāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ:
‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti.
Yato ca kho ahaṁ, ānanda, devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ na addasaṁ;
athāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ:
‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti.
Seyyathāpi, ānanda, gūthakūpo sādhikaporiso pūro gūthassa samatittiko.
Tatra puriso sasīsako nimuggo assa.
Tassa kocideva puriso uppajjeyya atthakāmo hitakāmo yogakkhemakāmo tamhā gūthakūpā uddharitukāmo.
So taṁ gūthakūpaṁ samantānuparigacchanto neva passeyya tassa purisassa vālaggakoṭinittudanamattampi gūthena amakkhitaṁ, yattha taṁ gahetvā uddhareyya.
Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, yato devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ na addasaṁ;
athāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ:
‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti.
Sace tumhe, ānanda, suṇeyyātha tathāgatassa purisindriyañāṇāni vibhajissāmī”ti?
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo
yaṁ bhagavā purisindriyañāṇāni vibhajeyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Idhāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa kusalā kusalaṁ pātubhavissati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, bījāni akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sāradāni sukhasayitāni sukhette suparikammakatāya bhūmiyā nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, imāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa kusalā kusalaṁ pātubhavissati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa akusalā akusalaṁ pātubhavissati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, bījāni akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sāradāni sukhasayitāni puthusilāya nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa akusalā akusalaṁ pātubhavissati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi sukko dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantakāḷakehi akusalehi dhammehi, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, bījāni khaṇḍāni pūtīni vātātapahatāni sukhette suparikammakatāya bhūmiyā nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi sukko dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantakāḷakehi akusalehi dhammehi, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hotī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sakkā nu kho, bhante, imesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ aparepi tayo puggalā sappaṭibhāgā paññāpetun”ti?
“Sakkā, ānandā”ti bhagavā avoca:
“idhāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni ādittāni sampajjalitāni sajotibhūtāni puthusilāya nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni aṅgārāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā pana, ānanda, sāyanhasamayaṁ sūriye ogacchante, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, āloko antaradhāyissati andhakāro pātubhavissatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā, panānanda, abhido addharattaṁ bhattakālasamaye, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, āloko antarahito andhakāro pātubhūto”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni ādittāni sampajjalitāni sajotibhūtāni sukkhe tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, imāni aṅgārāni vuḍḍhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā panānanda, rattiyā paccūsasamayaṁ sūriye uggacchante, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, andhakāro antaradhāyissati, āloko pātubhavissatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā panānanda, abhido majjhanhike bhattakālasamaye, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, andhakāro antarahito āloko pātubhūto”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi akusalo dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantasukkehi anavajjehi dhammehi, diṭṭheva dhamme parinibbāyissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni sītāni nibbutāni sukkhe tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni aṅgārāni vuḍḍhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi akusalo dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantasukkehi anavajjehi dhammehi, diṭṭheva dhamme parinibbāyissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Tatrānanda, ye te purimā tayo puggalā tesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ eko aparihānadhammo, eko parihānadhammo, eko āpāyiko nerayiko.
Tatrānanda, yeme pacchimā tayo puggalā imesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ eko parihānadhammo, eko aparihānadhammo, eko parinibbānadhammo”ti.
Aṭṭhamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants when he arrived at a town of the Kosalans named Daṇḍakappaka.
The Buddha left the road and sat at the root of a tree on the seat spread out.
The mendicants entered Daṇḍakappaka to look for a guest house.
Then Venerable Ānanda together with several mendicants went to the Aciravatī River to bathe.
When he had bathed and emerged from the water he stood in one robe drying his limbs.
Then a certain mendicant went up to Venerable Ānanda, and said to him,
“Reverend Ānanda, when the Buddha declared that Devadatta was
going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable, did he do so after wholeheartedly deliberating, or was this just a way of speaking?”
“You’re right, reverend, that’s how the Buddha declared it.”
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
“Ānanda, that mendicant must be junior, recently gone forth, or else a foolish, incompetent senior mendicant.
How on earth can he take something that I have declared categorically to be ambiguous?
I do not see a single other individual about whom I have given such whole-hearted deliberation before making a declaration as I did in the case of Devadatta.
As long as I saw even a fraction of a hair’s tip of goodness in Devadatta
I did not declare that he was
going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable.
But when I saw that there was not even a fraction of a hair’s tip of goodness in Devadatta
I declared that he was
going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable.
Suppose there was a sewer deeper than a man’s height, full to the brim with feces,
and someone was sunk into it over their head.
Then along comes a person who wants to help make them safe, who wants to lift them out of that sewer.
But circling all around the sewer they couldn’t see even a fraction of a hair’s tip of that person that was not smeared with feces.
In the same way, when I saw that there was not even a fraction of a hair’s tip of goodness in Devadatta
I declared that he was
going to a place of loss, to hell, there to remain for an eon, irredeemable.
If you would all listen, Ānanda, I will analyze the Realized One’s knowledges of the faculties of persons.”
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One!
Let the Buddha analyze the faculties of persons. The mendicants will listen and remember it.”
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
The Buddha said this:
“Ānanda, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand:
‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’
After some time I encompass their mind and understand:
‘The skillful qualities of this individual have vanished, but the unskillful qualities are still present.
Nevertheless, their skillful root is unbroken, and from that the skillful will appear.
So this individual is not liable to decline in the future.’
Suppose some seeds were intact, unspoiled, not weather-damaged, fertile, and well-kept. They’re sown in a well-prepared, productive field.
Wouldn’t you know that those seeds would grow, increase, and mature?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand …
This individual is not liable to decline in the future …
This is how another individual is known to the Realized One by encompassing their mind.
And this is how the Realized One knows a person’s faculties by encompassing their mind.
And this is how the Realized One knows the future origination of a person’s qualities by encompassing their mind.
When I’ve comprehended the mind of an individual, I understand:
‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’
After some time I encompass their mind and understand:
‘The unskillful qualities of this individual have vanished, but the skillful qualities are still present.
Nevertheless, their unskillful root is unbroken, and from that the unskillful will appear.
So this individual is still liable to decline in the future.’
Suppose some seeds were intact, unspoiled, not weather-damaged, fertile, and well-kept. And they were sown on a broad rock.
Wouldn’t you know that those seeds would not grow, increase, and mature?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand …
This individual is still liable to decline in the future …
This is how another individual is known to the Realized One …
When I’ve comprehended the mind of an individual, I understand:
‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’
After some time I encompass their mind and understand:
‘This individual has not even a fraction of a hair’s tip of goodness. They have exclusively dark, unskillful qualities. When their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.’
Suppose some seeds were broken, spoiled, weather-damaged. They’re sown in a well-prepared, productive field.
Wouldn’t you know that those seeds would not grow, increase, and mature?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand …
‘This individual has not even a fraction of a hair’s tip of goodness. They have exclusively dark, unskillful qualities. When their body breaks up, after death, they will be reborn in a place of loss, a bad place, the underworld, hell.’ …”
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha,
“Sir, can you describe three other individuals who are counterparts of these three?”
“I can, Ānanda,” said the Buddha.
“Ānanda, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand:
‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’
After some time I encompass their mind and understand:
‘The skillful qualities of this individual have vanished, but the unskillful qualities are still present.
Nevertheless, their skillful root is unbroken, but it’s about to be totally destroyed.
So this individual is still liable to decline in the future.’
Suppose that there were some burning coals, blazing and glowing. And they were placed on a broad rock.
Wouldn’t you know that those coals would not grow, increase, and spread?”
“Yes, sir.”
“Or suppose it was the late afternoon and the sun was going down. Wouldn’t you know that the light was about to vanish and darkness appear?”
“Yes, sir.”
“Or suppose that it’s nearly time for the midnight meal. Wouldn’t you know that the light had vanished and the darkness appeared?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand …
This individual is still liable to decline in the future …
When I’ve comprehended the mind of an individual, I understand:
‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’
After some time I encompass their mind and understand:
‘The unskillful qualities of this individual have vanished, but the skillful qualities are still present.
Nevertheless, their unskillful root is unbroken, but it’s about to be totally destroyed.
So this individual is not liable to decline in the future.’
Suppose that there were some burning coals, blazing and glowing. They were placed on a pile of grass or timber.
Wouldn’t you know that those coals would grow, increase, and spread?”
“Yes, sir.”
“Suppose it’s the crack of dawn and the sun is rising. Wouldn’t you know that the dark will vanish and the light appear?”
“Yes, sir.”
“Or suppose that it’s nearly time for the midday meal. Wouldn’t you know that the dark had vanished and the light appeared?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand …
This individual is not liable to decline in the future …
When I’ve comprehended the mind of an individual, I understand:
‘Both skillful and unskillful qualities are found in this individual.’
After some time I encompass their mind and understand:
‘This individual has not even a fraction of a hair’s tip of unskillful qualities. They have exclusively bright, blameless qualities. They will become extinguished in this very life.’
Suppose that there were some cool, quenched coals. They were placed on a pile of grass or timber.
Wouldn’t you know that those coals would not grow, increase, and spread?”
“Yes, sir.”
“In the same way, when I’ve comprehended the mind of an individual, I understand …
‘This individual has not even a fraction of a hair’s tip of unskillful qualities. They have exclusively bright, blameless qualities. They will become extinguished in this very life.’
This is how another individual is known to the Realized One by encompassing their mind.
And this is how the Realized One knows a person’s faculties by encompassing their mind.
And this is how the Realized One knows the future origination of a person’s qualities by encompassing their mind.
And so, Ānanda, of the first three individuals one is not liable to decline, one is liable to decline, and one is bound for a place of loss, hell.
And of the second three individuals, one is liable to decline, one is not liable to decline, and one is bound to become extinguished.”
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn đang du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Dandakappaka. Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, ngồi xuống trên chỗ đã được sửa soạn dưới một gốc cây; còn các Tỷ-kheo ấy đi vào Dandakappaka để tìm chỗ ở. Bấy giờ Tôn giả Ananda cùng với một số đông Tỷ-kheo, đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một y để phơi tay chân cho khô.
TTC 2Rồi một Tỷ-kheo đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, thưa với Tôn giả Ananda:
—Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được” hay có phải nhờ một Thiên nhân?
—Thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố.
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, với một số đông Tỷ-kheo, con đi đến sông Aciravatì để rửa tay chân, sau khi rửa tay chân ở sông Aciravatì xong, ra khỏi sông, đứng trên bờ đắp một tấm y để phơi tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo đi đến con, sau khi đến thưa với con: “Có phải Thế Tôn tập trung tất cả tâm, thưa Tôn giả Ananda, để tuyên bố về Devadatta như sau: 'Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được' hay có phải nhờ một Thiên nhân? “
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời Tỷ-kheo ấy: “Thưa Hiền giả, thật đúng như Thế Tôn đã tuyên bố”.
—Này Ananda, hoặc Tỷ-kheo ấy là vị tân nhập, xuất gia chưa được bao lâu, hay vị ấy là Tỷ-kheo trưởng lão ngu si, không thông minh. Làm sao khi ta đã tuyên bố một chiều, ở đây lại có thể có trường hợp thứ hai được? Ta không thể thấy về một người nào khác, này Ananda, sau khi tập trung tất cả tâm, Ta đã tuyên bố như vậy, trừ với Devadatta! Cho đến khi nào, này Ananda, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu độ được”. Cho đến khi nào, này Ananda, Ta không thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Davadatta, cho nên Ta đã tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được”. Ví như, này Ananda, một hố phân cao hơn đầu người, đầy cả phân, và một người rơi vào hố phân cho đến cả đầu. Rồi một người khác đi đến, muốn lợi ích, muốn hạnh phúc, muốn người ấy an ổn khỏi các khổ ách, muốn kéo người ấy ra khỏi hố phân ấy. Người này đi vòng quanh hố phân và không thấy cho đến một điểm nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở người ấy mà không bị dính phân, để có thể nắm lấy chỗ ấy và kéo lên. Cũng vậy, này Ananda, cho đến khi nào, Ta thấy một pháp trắng nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa ở Devadatta, thời Ta đã không tuyên bố về Devadatta như sau: “Devadatta phải sanh vào đọa xứ, phải sanh vào địa ngục cho đến một kiếp, không thể cứu hộ được”. Nếu thầy muốn nghe, này Ananda, Như Lai sẽ phân tích về căn trí của con người.
—Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời, bạch Thiên Thệ, để Thế Tôn phân tích các căn trí của con người, sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 3—Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và pháp thiện sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy”. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể biết những hột giống này sẽ được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện hữu. Nhưng còn có cội gốc thiện chưa bị cắt đứt. Và thiện pháp sẽ khởi lên từ cội gốc thiện ấy”. Như vậy người này sẽ không bị thối đọa trong tương lai. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 4Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của một người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng còn có cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt và các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy”. Như vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai. Ví như, này Ananda, các hột giống chưa bị bể vụn, chưa bị hư thối, chưa bị gió và sức nóng phá hoại, còn giữ được sức sống, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất đầy sỏi đá. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này sẽ không có thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện đang hiện hữu, nhưng cội gốc của pháp bất thiện chưa được cắt đứt và các pháp bất thiện sẽ khởi lên từ cội gốc bất thiện ấy. Như vậy người này sẽ bị thối đọa trong tương lai”. Như vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, đã biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 5Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Ví như, này Ananda, các hột giống bị bể vụn, bị hư thối, bị gió và sức nóng phá hoại, được bám sâu trong cánh đồng, được gieo trên mảnh đất khéo sửa soạn. Này Ananda, Thầy có thể rõ biết những hột giống này không thể được lớn lên, được tăng trưởng, được lớn mạnh không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác: “Trong người này, có những pháp thiện, và những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Người này không có pháp trắng cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp bất thiện, chỉ một mặt màu đen, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình biết được tâm của loài Người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có thể tuyên bố ba hạng người khác đồng loại với ba người này hay không?
—Có thể được, này Ananda.
Thế Tôn nói như sau:
TTC 6—Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đang hiện khởi; và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt và nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa trong tương lai”. Ví như, này Ananda, các cục than cháy đỏ, rực cháy, cháy lửa ngọn, được quăng trên đất sỏi. Này Ananda, Thầy có biết không, đống than này không có thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Ví như, này Ananda, vào buổi chiều, mặt trời đang lặn, Thầy có thể biết được chăng, này Ananda, biết rằng: “Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Ví như, này Ananda, khi đêm đã qua một phần, trong thời gian ăn cơm, Thầy có biết chăng, này Ananda, biết rằng: “Ánh sáng đã biến mất, bóng tối đã xuất hiện”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy, biết rằng: “Trong người này, các pháp thiện đã biến mất, các pháp bất thiện đã hiện khởi. Và cội gốc thiện chưa bị cắt đứt, đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ đi đến thối đọa trong tương lai”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người, với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 7Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, các pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối đọa trong tương lai”. Ví như, này Ananda, đống than cháy đỏ, rực cháy, cháy lửa ngọn, quăng trên một đống cỏ khô, hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống than này sẽ được lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Ví như, này Ananda, đêm đã gần mãn, mặt trời đang mọc; này Ananda, Thầy có biết chăng bóng tối sắp sửa biến mất, ánh sáng sẽ hiện ra”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Ví như, này Ananda, trong một thời gian sau, vào giữa trưa, vào giờ ăn cơm, Thầy có biết chăng, này Ananda, bóng tối đã biến mất, ánh sáng đã hiện ra”?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Ananda, ở đây, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian khác, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này, pháp bất thiện đã biến mất, các pháp thiện được hiện khởi; cội gốc bất thiện chưa bị cắt đứt, nhưng đi đến hoàn toàn bị nhổ lên bởi người ấy. Như vậy, người này sẽ không phải bị thối đọa trong tương lai”. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được các căn trí của người. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
TTC 8Ở đây, này Ananda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này không có pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn”. Ví như, này Ananda, những cục than nguội lạnh, đã dập tắt, bị quăng trên đống cỏ hay trên đống củi khô. Này Ananda, Thầy có biết chăng, đống than này không thể lớn lên, tăng trưởng, lớn mạnh?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Cũng vậy, ở đây này Aụnanda, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người khác như sau: “Trong người này, có những pháp thiện, cũng có những pháp bất thiện”. Sau một thời gian, cũng vậy, với tâm của Ta, Ta rõ biết tâm của người ấy: “Trong người này không có pháp bất thiện cho đến nhỏ như đầu sợi lông đuôi ngựa. Người này thành tựu với những pháp thuần túy trắng, những pháp không có lỗi lầm, ngay trong hiện tại, sẽ được nhập Niết-bàn”. Như vậy, này Ananda, Như Lai biết được tâm của loài Người với tâm của mình. Cũng vậy, này Ananda, Như Lai với tâm của mình đã biết được căn trí của mình, biết được pháp sanh khởi trong tương lai.
Ở đây, này Ananda, ba hạng người trước, một trong ba người ấy không phải bị thối đọa, một phải bị thối đọa, một bị rơi vào đọa xứ, địa ngục. Ở đây, này Ananda, trong ba hạng người sau, một trong ba hạng người này không phải bị thối đọa, một phải bị thối đọa, một được nhập Niết-bàn.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena daṇḍakappakaṁ nāma kosalānaṁ nigamo tadavasari.
Atha kho bhagavā maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle paññatte āsane nisīdi.
Te ca bhikkhū daṇḍakappakaṁ pavisiṁsu āvasathaṁ pariyesituṁ.
Atha kho āyasmā ānando sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena aciravatī nadī tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ.
Aciravatiyā nadiyā gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.
Atha kho aññataro bhikkhu yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso ānanda, sabbaṁ cetaso samannāharitvā nu kho devadatto bhagavatā byākato:
‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti, udāhu kenacideva pariyāyenāti?
Evaṁ kho panetaṁ, āvuso, bhagavatā byākatan”ti.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“idhāhaṁ, bhante, sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena aciravatī nadī tenupasaṅkamiṁ gattāni parisiñcituṁ.
Aciravatiyā nadiyā gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsiṁ gattāni pubbāpayamāno.
Atha kho, bhante, aññataro bhikkhu yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ etadavoca:
‘kiṁ nu kho, āvuso ānanda, sabbaṁ cetaso samannāharitvā nu kho devadatto bhagavatā byākato—
āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekicchoti, udāhu kenacideva pariyāyenā’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ bhikkhuṁ etadavocaṁ:
‘evaṁ kho panetaṁ, āvuso, bhagavatā byākatan’”ti.
“So vā kho, ānanda, bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito, thero vā pana bālo abyatto.
Kathañhi nāma yaṁ mayā ekaṁsena byākataṁ tattha dvejjhaṁ āpajjissati.
Nāhaṁ, ānanda, aññaṁ ekapuggalampi samanupassāmi, yo evaṁ mayā sabbaṁ cetaso samannāharitvā byākato, yathayidaṁ devadatto.
Yāvakīvañcāhaṁ, ānanda, devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ addasaṁ;
neva tāvāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ:
‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti.
Yato ca kho ahaṁ, ānanda, devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ na addasaṁ;
athāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ:
‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti.
Seyyathāpi, ānanda, gūthakūpo sādhikaporiso pūro gūthassa samatittiko.
Tatra puriso sasīsako nimuggo assa.
Tassa kocideva puriso uppajjeyya atthakāmo hitakāmo yogakkhemakāmo tamhā gūthakūpā uddharitukāmo.
So taṁ gūthakūpaṁ samantānuparigacchanto neva passeyya tassa purisassa vālaggakoṭinittudanamattampi gūthena amakkhitaṁ, yattha taṁ gahetvā uddhareyya.
Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, yato devadattassa vālaggakoṭinittudanamattampi sukkadhammaṁ na addasaṁ;
athāhaṁ devadattaṁ byākāsiṁ:
‘āpāyiko devadatto nerayiko kappaṭṭho atekiccho’ti.
Sace tumhe, ānanda, suṇeyyātha tathāgatassa purisindriyañāṇāni vibhajissāmī”ti?
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo
yaṁ bhagavā purisindriyañāṇāni vibhajeyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tenahānanda, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Idhāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa kusalā kusalaṁ pātubhavissati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, bījāni akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sāradāni sukhasayitāni sukhette suparikammakatāya bhūmiyā nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, imāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa kusalā kusalaṁ pātubhavissati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa akusalā akusalaṁ pātubhavissati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, bījāni akhaṇḍāni apūtīni avātātapahatāni sāradāni sukhasayitāni puthusilāya nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tamhā tassa akusalā akusalaṁ pātubhavissati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi sukko dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantakāḷakehi akusalehi dhammehi, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, bījāni khaṇḍāni pūtīni vātātapahatāni sukhette suparikammakatāya bhūmiyā nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni bījāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi sukko dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantakāḷakehi akusalehi dhammehi, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hotī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sakkā nu kho, bhante, imesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ aparepi tayo puggalā sappaṭibhāgā paññāpetun”ti?
“Sakkā, ānandā”ti bhagavā avoca:
“idhāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni ādittāni sampajjalitāni sajotibhūtāni puthusilāya nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni aṅgārāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā pana, ānanda, sāyanhasamayaṁ sūriye ogacchante, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, āloko antaradhāyissati andhakāro pātubhavissatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā, panānanda, abhido addharattaṁ bhattakālasamaye, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, āloko antarahito andhakāro pātubhūto”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa kusalā dhammā antarahitā, akusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa kusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ parihānadhammo bhavissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni ādittāni sampajjalitāni sajotibhūtāni sukkhe tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, imāni aṅgārāni vuḍḍhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā panānanda, rattiyā paccūsasamayaṁ sūriye uggacchante, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, andhakāro antaradhāyissati, āloko pātubhavissatī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi vā panānanda, abhido majjhanhike bhattakālasamaye, jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, andhakāro antarahito āloko pātubhūto”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa akusalā dhammā antarahitā, kusalā dhammā sammukhībhūtā.
Atthi ca khvassa akusalamūlaṁ asamucchinnaṁ, tampi sabbena sabbaṁ samugghātaṁ gacchati.
Evamayaṁ puggalo āyatiṁ aparihānadhammo bhavissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Idha panāhaṁ, ānanda, ekaccaṁ puggalaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi akusalo dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantasukkehi anavajjehi dhammehi, diṭṭheva dhamme parinibbāyissatī’ti.
Seyyathāpi, ānanda, aṅgārāni sītāni nibbutāni sukkhe tiṇapuñje vā kaṭṭhapuñje vā nikkhittāni.
Jāneyyāsi tvaṁ, ānanda, nayimāni aṅgārāni vuḍḍhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissantī”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho ahaṁ, ānanda, idhekaccaṁ puggalaṁ evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘imassa kho puggalassa vijjamānā kusalāpi dhammā akusalāpi dhammā’ti.
Tamenaṁ aparena samayena evaṁ cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘natthi imassa puggalassa vālaggakoṭinittudanamattopi akusalo dhammo, samannāgatoyaṁ puggalo ekantasukkehi anavajjehi dhammehi, diṭṭheva dhamme parinibbāyissatī’ti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisapuggalo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa purisindriyañāṇaṁ cetasā ceto paricca viditaṁ hoti.
Evampi kho, ānanda, tathāgatassa āyatiṁ dhammasamuppādo cetasā ceto paricca vidito hoti.
Tatrānanda, ye te purimā tayo puggalā tesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ eko aparihānadhammo, eko parihānadhammo, eko āpāyiko nerayiko.
Tatrānanda, yeme pacchimā tayo puggalā imesaṁ tiṇṇaṁ puggalānaṁ eko parihānadhammo, eko aparihānadhammo, eko parinibbānadhammo”ti.
Aṭṭhamaṁ.