—Nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các thầy như sau: “Chư Hiền, có phải Sa-môn Gotama sống Phạm hạnh để được sanh lên cõi Trời? “Này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy, các Thầy có bực phiền, tủi nhục, chán ngấy hay không ?
—Thưa có , bạch Thế Tôn.
—Như vậy, này các Tỷ Kheo, các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy đối với thiên thọ mạng; các Thầy bực phiền , tủi nhục, chán ngấy đối với thiên sắc, thiên lạc, thiên danh vọng, thiên thù thắng, còn nói gì, này các Tỷ Kheo, đối vói thân làm ác, các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy như thế nào, đối với miệng nói ác…. đối với ý nghĩ ác, các Thầy cảm thấy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy như thế nào.
“Sace vo, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
‘devalokūpapattiyā, āvuso, samaṇe gotame brahmacariyaṁ vussathā’ti?
Nanu tumhe, bhikkhave, evaṁ puṭṭhā aṭṭīyeyyātha harāyeyyātha jiguccheyyāthā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Iti kira tumhe, bhikkhave, dibbena āyunā aṭṭīyatha harāyatha jigucchatha, dibbena vaṇṇena dibbena sukhena dibbena yasena dibbenādhipateyyena aṭṭīyatha harāyatha jigucchatha;
pageva kho pana, bhikkhave, tumhehi kāyaduccaritena aṭṭīyitabbaṁ harāyitabbaṁ jigucchitabbaṁ, vacīduccaritena … manoduccaritena aṭṭīyitabbaṁ harāyitabbaṁ jigucchitabban”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, if wanderers of other sects were to ask you thus: ‘Friends, do you lead the spiritual life under the ascetic Gotama for the sake of rebirth in the deva world?’ wouldn’t you be repelled, humiliated, and disgusted?”
“Yes, Bhante.”
SC 2“Thus, bhikkhus, since you are repelled, humiliated, and disgusted with a celestial life span, celestial beauty, celestial happiness, celestial glory, and celestial authority, so much more then should you be repelled, humiliated, and disgusted with bodily misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct.”
—Nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các thầy như sau: “Chư Hiền, có phải Sa-môn Gotama sống Phạm hạnh để được sanh lên cõi Trời? “Này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy, các Thầy có bực phiền, tủi nhục, chán ngấy hay không ?
—Thưa có , bạch Thế Tôn.
—Như vậy, này các Tỷ Kheo, các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy đối với thiên thọ mạng; các Thầy bực phiền , tủi nhục, chán ngấy đối với thiên sắc, thiên lạc, thiên danh vọng, thiên thù thắng, còn nói gì, này các Tỷ Kheo, đối vói thân làm ác, các Thầy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy như thế nào, đối với miệng nói ác…. đối với ý nghĩ ác, các Thầy cảm thấy bực phiền, tủi nhục, chán ngấy như thế nào.
“Sace vo, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
‘devalokūpapattiyā, āvuso, samaṇe gotame brahmacariyaṁ vussathā’ti?
Nanu tumhe, bhikkhave, evaṁ puṭṭhā aṭṭīyeyyātha harāyeyyātha jiguccheyyāthā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Iti kira tumhe, bhikkhave, dibbena āyunā aṭṭīyatha harāyatha jigucchatha, dibbena vaṇṇena dibbena sukhena dibbena yasena dibbenādhipateyyena aṭṭīyatha harāyatha jigucchatha;
pageva kho pana, bhikkhave, tumhehi kāyaduccaritena aṭṭīyitabbaṁ harāyitabbaṁ jigucchitabbaṁ, vacīduccaritena … manoduccaritena aṭṭīyitabbaṁ harāyitabbaṁ jigucchitabban”ti.
Aṭṭhamaṁ.