TTC 1—Này các Tỷ-kheo, với người có giới, có giới đầy đủ, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng không hối tiếc sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này Tỷ-kheo, với người có giới, có giới đầy đủ, không hối tiếc sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, với người không hối tiếc, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng hân hoan sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có không hối tiếc, hân hoan sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, với người có hân hoan, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng hoan hỷ sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ kheo, với người có hoan hỷ , không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng thân ta được khinh an”, Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có ý hoan hỷ, thân được khinh an. Này các Tỷ-kheo, với người có thân khinh an, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng ta cảm thọ an lạc”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có thân khinh an, an lạc được cảm thọ. Này các Tỷ-kheo, với người có an lạc, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng tâm ta được Thiền định”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có an lạc, tâm được Thiền định. Này các Tỷ-kheo, với người có Thiền định, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta biết, ta thấy như thật”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người có tâm Thiền định, biết và thấy như thật”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người có tâm Thiền định, biết và thấy như thật. Này các Tỷ-kheo, người biết và thấy như thật, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta sẽ nhàm chán, ta sẽ ly tham” Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người biết và thấy như thật, nhàm chán và ly tham. Này các Tỷ-kheo, người nhàm chán, ly tham không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta sẽ chứng ngộ giải thoát tri kiến”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người nhàm chán, ly tham, chứng ngộ giải thoát tri kiến.
TTC 2Như vậy, này các Tỷ-kheo, nhàm chán lý tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến; như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, ly tham, có lợi ích nhàm chán, ly tham; định có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi như thật tri kiến; an lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định; khinh an có ý nghĩa an lạc, có lợi ích an lạc; hỷ có ý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an; hân hoan có ý nghĩa hỷ, có lợi ích hỷ; không nuối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan, các Thiện giới có ý nghĩa không nuối tiếc, có lợi ích không hối tiếc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các pháp khiến cho các pháp (khác) tăng thịnh; các pháp khiến các pháp khác viên mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia.
“Sīlavato, bhikkhave, sīlasampannassa na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘avippaṭisāro me uppajjatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ sīlavato sīlasampannassa avippaṭisāro uppajjati.
Avippaṭisārissa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘pāmojjaṁ me uppajjatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ avippaṭisārissa pāmojjaṁ jāyati.
Pamuditassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘pīti me uppajjatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ pamuditassa pīti uppajjati.
Pītimanassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘kāyo me passambhatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ pītimanassa kāyo passambhati.
Passaddhakāyassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘sukhaṁ vediyāmī’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ passaddhakāyo sukhaṁ vediyati.
Sukhino, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘cittaṁ me samādhiyatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ sukhino cittaṁ samādhiyati.
Samāhitassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘yathābhūtaṁ jānāmi passāmī’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ samāhito yathābhūtaṁ jānāti passati.
Yathābhūtaṁ, bhikkhave, jānato passato na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘nibbindāmi virajjāmī’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ yathābhūtaṁ jānaṁ passaṁ nibbindati virajjati.
Nibbinnassa, bhikkhave, virattassa na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘vimuttiñāṇadassanaṁ sacchikaromī’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ nibbinno viratto vimuttiñāṇadassanaṁ sacchikaroti.
Iti kho, bhikkhave, nibbidāvirāgo vimuttiñāṇadassanattho vimuttiñāṇadassanānisaṁso;
yathābhūtañāṇadassanaṁ nibbidāvirāgatthaṁ nibbidāvirāgānisaṁsaṁ;
samādhi yathābhūtañāṇadassanattho yathābhūtañāṇadassanānisaṁso;
sukhaṁ samādhatthaṁ samādhānisaṁsaṁ;
passaddhi sukhatthā sukhānisaṁsā;
pīti passaddhatthā passaddhānisaṁsā;
pāmojjaṁ pītatthaṁ pītānisaṁsaṁ;
avippaṭisāro pāmojjattho pāmojjānisaṁso;
kusalāni sīlāni avippaṭisāratthāni avippaṭisārānisaṁsāni.
Iti kho, bhikkhave, dhammā dhamme abhisandenti, dhammā dhamme paripūrenti apārā pāraṁ gamanāyā”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1(1)–(2) “Bhikkhus, for a virtuous person, one whose behavior is virtuous, no volition need be exerted: ‘Let non-regret arise in me.’ It is natural that non-regret arises in a virtuous person, one whose behavior is virtuous.
SC 2(3) “For one without regret no volition need be exerted: ‘Let joy arise in me.’ It is natural that joy arises in one without regret.
SC 3(4) “For one who is joyful no volition need be exerted: ‘Let rapture arise in me.’ It is natural that rapture arises in one who is joyful. an.v.3
SC 4(5) “For one with a rapturous mind no volition need be exerted: ‘Let my body be tranquil.’ It is natural that the body of one with a rapturous mind is tranquil.
SC 5(6) “For one tranquil in body no volition need be exerted: ‘Let me feel pleasure.’ It is natural that one tranquil in body feels pleasure.
SC 6(7) “For one feeling pleasure no volition need be exerted: ‘Let my mind be concentrated.’ It is natural that the mind of one feeling pleasure is concentrated.
SC 7(8) “For one who is concentrated no volition need be exerted: ‘Let me know and see things as they really are.’ It is natural that one who is concentrated knows and sees things as they really are.
SC 8(9) “For one who knows and sees things as they really are no volition need be exerted: ‘Let me be disenchanted and dispassionate.’ It is natural that one who knows and sees things as they really are is disenchanted and dispassionate.
SC 9(10) “For one who is disenchanted and dispassionate no volition need be exerted: ‘Let me realize the knowledge and vision of liberation.’ It is natural that one who is disenchanted and dispassionate realizes the knowledge and vision of liberation.
SC 10“Thus, bhikkhus, (9)–(10) the knowledge and vision of liberation is the purpose and benefit of disenchantment and dispassion; (8) disenchantment and dispassion are the purpose and benefit of the knowledge and vision of things as they really are; (7) the knowledge and vision of things as they really are is the purpose and benefit of concentration; (6) concentration is the purpose and benefit of pleasure; (5) pleasure is the purpose and benefit of tranquility; (4) tranquility is the purpose and benefit of rapture; (3) rapture is the purpose and benefit of joy; (2) joy is the purpose and benefit of non-regret; and (1) non-regret is the purpose and benefit of virtuous behavior.
SC 11“Thus, bhikkhus, one stage an.v.4 flows into the next stage, one stage fills up the next stage, for going from the near shore to the far shore.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, với người có giới, có giới đầy đủ, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng không hối tiếc sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này Tỷ-kheo, với người có giới, có giới đầy đủ, không hối tiếc sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, với người không hối tiếc, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng hân hoan sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có không hối tiếc, hân hoan sanh khởi. Này các Tỷ-kheo, với người có hân hoan, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng hoan hỷ sẽ sanh khởi nơi ta”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ kheo, với người có hoan hỷ , không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng thân ta được khinh an”, Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có ý hoan hỷ, thân được khinh an. Này các Tỷ-kheo, với người có thân khinh an, không cần phải làm với dụng ý rằng: “Mong rằng ta cảm thọ an lạc”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có thân khinh an, an lạc được cảm thọ. Này các Tỷ-kheo, với người có an lạc, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng tâm ta được Thiền định”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có an lạc, tâm được Thiền định. Này các Tỷ-kheo, với người có Thiền định, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta biết, ta thấy như thật”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người có tâm Thiền định, biết và thấy như thật”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người có tâm Thiền định, biết và thấy như thật. Này các Tỷ-kheo, người biết và thấy như thật, không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta sẽ nhàm chán, ta sẽ ly tham” Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người biết và thấy như thật, nhàm chán và ly tham. Này các Tỷ-kheo, người nhàm chán, ly tham không cần phải làm với dụng ý: “Mong rằng ta sẽ chứng ngộ giải thoát tri kiến”. Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người nhàm chán, ly tham, chứng ngộ giải thoát tri kiến.
TTC 2Như vậy, này các Tỷ-kheo, nhàm chán lý tham có ý nghĩa giải thoát tri kiến, có lợi ích giải thoát tri kiến; như thật tri kiến có ý nghĩa nhàm chán, ly tham, có lợi ích nhàm chán, ly tham; định có ý nghĩa như thật tri kiến, có lợi như thật tri kiến; an lạc có ý nghĩa định, có lợi ích định; khinh an có ý nghĩa an lạc, có lợi ích an lạc; hỷ có ý nghĩa khinh an, có lợi ích khinh an; hân hoan có ý nghĩa hỷ, có lợi ích hỷ; không nuối tiếc có ý nghĩa hân hoan, có lợi ích hân hoan, các Thiện giới có ý nghĩa không nuối tiếc, có lợi ích không hối tiếc. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các pháp khiến cho các pháp (khác) tăng thịnh; các pháp khiến các pháp khác viên mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia.
“Sīlavato, bhikkhave, sīlasampannassa na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘avippaṭisāro me uppajjatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ sīlavato sīlasampannassa avippaṭisāro uppajjati.
Avippaṭisārissa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘pāmojjaṁ me uppajjatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ avippaṭisārissa pāmojjaṁ jāyati.
Pamuditassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘pīti me uppajjatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ pamuditassa pīti uppajjati.
Pītimanassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘kāyo me passambhatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ pītimanassa kāyo passambhati.
Passaddhakāyassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘sukhaṁ vediyāmī’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ passaddhakāyo sukhaṁ vediyati.
Sukhino, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘cittaṁ me samādhiyatū’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ sukhino cittaṁ samādhiyati.
Samāhitassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘yathābhūtaṁ jānāmi passāmī’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ samāhito yathābhūtaṁ jānāti passati.
Yathābhūtaṁ, bhikkhave, jānato passato na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘nibbindāmi virajjāmī’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ yathābhūtaṁ jānaṁ passaṁ nibbindati virajjati.
Nibbinnassa, bhikkhave, virattassa na cetanāya karaṇīyaṁ:
‘vimuttiñāṇadassanaṁ sacchikaromī’ti.
Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ nibbinno viratto vimuttiñāṇadassanaṁ sacchikaroti.
Iti kho, bhikkhave, nibbidāvirāgo vimuttiñāṇadassanattho vimuttiñāṇadassanānisaṁso;
yathābhūtañāṇadassanaṁ nibbidāvirāgatthaṁ nibbidāvirāgānisaṁsaṁ;
samādhi yathābhūtañāṇadassanattho yathābhūtañāṇadassanānisaṁso;
sukhaṁ samādhatthaṁ samādhānisaṁsaṁ;
passaddhi sukhatthā sukhānisaṁsā;
pīti passaddhatthā passaddhānisaṁsā;
pāmojjaṁ pītatthaṁ pītānisaṁsaṁ;
avippaṭisāro pāmojjattho pāmojjānisaṁso;
kusalāni sīlāni avippaṭisāratthāni avippaṭisārānisaṁsāni.
Iti kho, bhikkhave, dhammā dhamme abhisandenti, dhammā dhamme paripūrenti apārā pāraṁ gamanāyā”ti.
Dutiyaṁ.