TTC 1—Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là Thiện nam tử”. Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là vị có sức mạnh”. Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là vị có tịnh tín”. Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là vị có chánh niệm sắc bén”.
Ai khác ngoài Nanda, này các Tỷ-kheo, thành tựu chế ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác? Nhờ vậy, Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là sự chế ngự các căn của Nanda.
Này các Tỷ-kheo, nếu Nanda phải nhìn về phương Ðông, tập trung tất cả tâm, Nanda nhìn về hướng Ðông và suy nghĩ: “Như vậy, khi Ta đang nhìn về hướng Ðông, thời tham, ưu, các ác bất thiện pháp sẽ không có xâm nhập”. Như vậy, ở đây vị ấy tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, nếu Nanda phải nhìn về phương Tây … nhìn về phương Bắc … về phương Nam … ngước nhìn lên Trên … cúi nhìn về phương Dưới … hay nhìn về hướng giữa các phương chính, tập trung tất cả tâm, Nanda nhìn về hướng giữa các phương chính và suy nghĩ: “Như vậy, khi ta đang nhìn về hướng giữa các phương chính, thời tham, ưu, các ác bất thiện pháp sẽ không có xâm nhập “. Như vậy, ở đây, vị ấy tỉnh giác.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Nanda chế ngự các căn.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda tiết độ trong ăn uống.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda với chánh tư duy thọ dụng các món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Nanda tiết độ trong ăn uống.
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda chú tâm cảnh giác.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda ban ngày đi kinh hành hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành, hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh giữa, Nanda nằm dáng nằm con sư tử, bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến thức dậy lại. Ban đêm, canh cuối thức dậy, đi kinh hành hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.
Này các Tỷ-kheo, như vậy Nanda chú tâm cảnh giác.
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt … rõ biết khi các tưởng … rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỷ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Này các Tỷ-kheo, ai khác ngoài Nanda, thành tựu chế ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác? Nhờ vậy, Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.
“‘kulaputto’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
‘Balavā’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
‘Pāsādiko’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
‘Tibbarāgo’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
Kimaññatra, bhikkhave, nando indriyesu guttadvāro, bhojane mattaññū, jāgariyaṁ anuyutto, satisampajaññena samannāgato, yehi nando sakkoti paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Tatridaṁ, bhikkhave, nandassa indriyesu guttadvāratāya hoti.
Sace, bhikkhave, nandassa puratthimā disā āloketabbā hoti, sabbaṁ cetasā samannāharitvā nando puratthimaṁ disaṁ āloketi:
‘evaṁ me puratthimaṁ disaṁ ālokayato nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti.
Itiha tattha sampajāno hoti.
Sace, bhikkhave, nandassa pacchimā disā āloketabbā hoti …pe…
uttarā disā āloketabbā hoti …
dakkhiṇā disā āloketabbā hoti …
uddhaṁ ulloketabbā hoti …
adho oloketabbā hoti …
anudisā anuviloketabbā hoti, sabbaṁ cetasā samannāharitvā nando anudisaṁ anuviloketi:
‘evaṁ me anudisaṁ anuvilokayato nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti.
Itiha tattha sampajāno hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa indriyesu guttadvāratāya hoti.
Tatridaṁ, bhikkhave, nandassa bhojane mattaññutāya hoti.
Idha, bhikkhave, nando paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti:
‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa bhojane mattaññutāya hoti.
Tatridaṁ, bhikkhave, nandassa jāgariyānuyogasmiṁ hoti.
Idha, bhikkhave, nando divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti;
rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti;
rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeti pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā;
rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti.
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa jāgariyānuyogasmiṁ hoti.
Tatridaṁ, bhikkhave, nandassa satisampajaññasmiṁ hoti.
Idha, bhikkhave, nandassa viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
viditā saññā …pe…
viditā vitakkā …pe… abbhatthaṁ gacchanti.
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa satisampajaññasmiṁ hoti.
Kimaññatra, bhikkhave, nando indriyesu guttadvāro, bhojane mattaññū, jāgariyaṁ anuyutto, satisampajaññena samannāgato, yehi nando sakkoti paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caritun”ti.
Navamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, (1) one speaking rightly would say of Nanda that he is a clansman, (2) that he is strong, (3) that he is graceful, and (4) that he is strongly prone to lust. How else could Nanda lead the complete and pure spiritual life unless (5) he guarded the doors of the sense faculties, (6) observed moderation in eating, (7) was intent on wakefulness, and (8) possessed mindfulness and clear comprehension?
SC 2“Bhikkhus, this is how Nanda guards the doors of the sense faculties: an.iv.167 If he needs to look to the east, he does so after he has fully considered the matter and clearly comprehends it thus: ‘When I look to the east, bad unwholesome states of longing and dejection will not flow in upon me.’ If he needs to look to the west … to the north … to the south … to look up … to look down … to survey the intermediate directions, he does so after he has fully considered the matter and clearly comprehends it thus: ‘When I look to the intermediate directions, bad unwholesome states of longing and dejection will not flow in upon me.’ That is how Nanda guards the doors of the sense faculties.
SC 3“This is how Nanda observes moderation in eating: Here, reflecting carefully, Nanda consumes food neither for amusement nor for intoxication nor for the sake of physical beauty and attractiveness, but only for the support and maintenance of this body, for avoiding harm, and for assisting the spiritual life, considering: ‘Thus I shall terminate the old feeling and not arouse a new feeling, and I shall be healthy and blameless and dwell at ease.’ That is how Nanda observes moderation in eating.
SC 4“This is how Nanda is intent on wakefulness: an.iv.168 During the day, while walking back and forth and sitting, Nanda purifies his mind of obstructive qualities. In the first watch of the night, while walking back and forth and sitting, he purifies his mind of obstructive qualities. In the middle watch of the night he lies down on the right side in the lion’s posture, with one foot overlapping the other, mindful and clearly comprehending, after noting in his mind the idea of rising. After rising, in the last watch of the night, while walking back and forth and sitting, he purifies his mind of obstructive qualities. That is how Nanda is intent on wakefulness.
SC 5“This is Nanda’s mindfulness and clear comprehension: Nanda knows feelings as they arise, as they remain present, as they disappear; he knows perceptions as they arise, as they remain present, as they disappear; he knows thoughts as they arise, as they remain present, as they disappear. That is Nanda’s mindfulness and clear comprehension.
SC 6“How else, bhikkhus, could Nanda lead the complete and pure spiritual life unless he guarded the doors of the sense faculties, observed moderation in eating, was intent on wakefulness, and possessed mindfulness and clear comprehension?”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là Thiện nam tử”. Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là vị có sức mạnh”. Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là vị có tịnh tín”. Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là vị có chánh niệm sắc bén”.
Ai khác ngoài Nanda, này các Tỷ-kheo, thành tựu chế ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác? Nhờ vậy, Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, đây là sự chế ngự các căn của Nanda.
Này các Tỷ-kheo, nếu Nanda phải nhìn về phương Ðông, tập trung tất cả tâm, Nanda nhìn về hướng Ðông và suy nghĩ: “Như vậy, khi Ta đang nhìn về hướng Ðông, thời tham, ưu, các ác bất thiện pháp sẽ không có xâm nhập”. Như vậy, ở đây vị ấy tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, nếu Nanda phải nhìn về phương Tây … nhìn về phương Bắc … về phương Nam … ngước nhìn lên Trên … cúi nhìn về phương Dưới … hay nhìn về hướng giữa các phương chính, tập trung tất cả tâm, Nanda nhìn về hướng giữa các phương chính và suy nghĩ: “Như vậy, khi ta đang nhìn về hướng giữa các phương chính, thời tham, ưu, các ác bất thiện pháp sẽ không có xâm nhập “. Như vậy, ở đây, vị ấy tỉnh giác.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Nanda chế ngự các căn.
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda tiết độ trong ăn uống.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda với chánh tư duy thọ dụng các món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Nanda tiết độ trong ăn uống.
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda chú tâm cảnh giác.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda ban ngày đi kinh hành hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành, hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh giữa, Nanda nằm dáng nằm con sư tử, bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến thức dậy lại. Ban đêm, canh cuối thức dậy, đi kinh hành hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.
Này các Tỷ-kheo, như vậy Nanda chú tâm cảnh giác.
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt … rõ biết khi các tưởng … rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỷ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Này các Tỷ-kheo, ai khác ngoài Nanda, thành tựu chế ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác? Nhờ vậy, Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.
“‘kulaputto’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
‘Balavā’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
‘Pāsādiko’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
‘Tibbarāgo’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
Kimaññatra, bhikkhave, nando indriyesu guttadvāro, bhojane mattaññū, jāgariyaṁ anuyutto, satisampajaññena samannāgato, yehi nando sakkoti paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Tatridaṁ, bhikkhave, nandassa indriyesu guttadvāratāya hoti.
Sace, bhikkhave, nandassa puratthimā disā āloketabbā hoti, sabbaṁ cetasā samannāharitvā nando puratthimaṁ disaṁ āloketi:
‘evaṁ me puratthimaṁ disaṁ ālokayato nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti.
Itiha tattha sampajāno hoti.
Sace, bhikkhave, nandassa pacchimā disā āloketabbā hoti …pe…
uttarā disā āloketabbā hoti …
dakkhiṇā disā āloketabbā hoti …
uddhaṁ ulloketabbā hoti …
adho oloketabbā hoti …
anudisā anuviloketabbā hoti, sabbaṁ cetasā samannāharitvā nando anudisaṁ anuviloketi:
‘evaṁ me anudisaṁ anuvilokayato nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti.
Itiha tattha sampajāno hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa indriyesu guttadvāratāya hoti.
Tatridaṁ, bhikkhave, nandassa bhojane mattaññutāya hoti.
Idha, bhikkhave, nando paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti:
‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa bhojane mattaññutāya hoti.
Tatridaṁ, bhikkhave, nandassa jāgariyānuyogasmiṁ hoti.
Idha, bhikkhave, nando divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti;
rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti;
rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeti pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā;
rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti.
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa jāgariyānuyogasmiṁ hoti.
Tatridaṁ, bhikkhave, nandassa satisampajaññasmiṁ hoti.
Idha, bhikkhave, nandassa viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti;
viditā saññā …pe…
viditā vitakkā …pe… abbhatthaṁ gacchanti.
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa satisampajaññasmiṁ hoti.
Kimaññatra, bhikkhave, nando indriyesu guttadvāro, bhojane mattaññū, jāgariyaṁ anuyutto, satisampajaññena samannāgato, yehi nando sakkoti paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caritun”ti.
Navamaṁ.