TTC 1—Thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng cho vua, là tài sản của Vua, được xem là biểu tượng của vua. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua biết nghe, biết sát hại, biết nhẫn, biết đi đến.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết nghe?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, khi người nài sai làm một công tác, hoặc đã làm từ trước hay chưa làm từ trước, sau khi nhiệt tâm tác ý, hoàn toàn chú tâm lóng tai và lắng nghe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết nghe.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết sát hại?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua sau khi đi đến chiến trận, giết voi, giết người cưỡi voi, giết ngựa, giết người cưỡi ngựa, giết hại xe, giết hại người cưỡi xe, giết các bộ binh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết sát hại.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua sau khi đi đến chiến trường, chịu đựng cây giáo đâm, chịu đựng kiếm chém, chịu đựng tên bắn, chịu đựng búa chặt, chịu đựng tiếng trống lớn, tiếng thanh la, tiếng tù và, tiếng trống nhỏ và các tiếng ồn ào khác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết kham nhẫn.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết đi đến?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, khi người nài sai đi đến hướng nào, hoặc trước kia đã có đi hay trước kia không có đi, liền đi đến chỗ ấy một cách mau mắn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết đi đến.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua xứng đáng là của vua, là tài sản của vua, đi đến làm biểu tượng của vua.
TTC 6Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu với bốn pháp, Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được chắp tay, xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết nghe, biết sát hại, biết kham nhẫn, biết đi đến.
TTC 7Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết nghe?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, sau khi nhiệt tâm tác ý hoàn toàn, chú tâm và lắng nghe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết nghe.
TTC 8Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết sát hại?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có chấp nhận dục tầm đã khởi lên, từ bỏ, gạn lọc, chấm dứt, làm cho không hiện hữu, không có chấp nhận sân tầm đã khởi lên … không có chấp nhận hại tầm đã khởi lên, từ bỏ, gạn lọc, chấm dứt, làm cho không hiện hữu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết sát hại.
TTC 9Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn lạnh, kham nhẫn nóng, kham nhẫn đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, kham nhẫn những cách nói chửi mắng, phỉ báng, chịu đựng các cảm thọ về thân, khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, không khả hỷ, không khả ý, chết điếng người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết kham nhẫn.
TTC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết đi?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo theo phương hướng nào từ trước chưa từng đi, tại đấy, mọi hành được chỉ tịnh, mọi sanh y được từ bỏ, ái được đoạn diệt. Niết-bàn, vị ấy đi đến chỗ ấy một cách mau chóng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết đi.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được chắp tay, xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời.
“Catūhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rañño nāgo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, rañño nāgo sotā ca hoti, hantā ca, khantā ca, gantā ca.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo sotā hoti?
Idha, bhikkhave, rañño nāgo yamenaṁ hatthidammasārathi kāraṇaṁ kāreti—
yadi vā katapubbaṁ yadi vā akatapubbaṁ—
taṁ aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto suṇāti.
Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo sotā hoti.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo hantā hoti?
Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato hatthimpi hanati, hatthāruhampi hanati, assampi hanati, assāruhampi hanati, rathampi hanati, rathikampi hanati, pattikampi hanati.
Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo hantā hoti.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo khantā hoti?
Idha bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato khamo hoti sattippahārānaṁ asippahārānaṁ usuppahārānaṁ pharasuppahārānaṁ bheripaṇavasaṅkhatiṇavaninnādasaddānaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo khantā hoti.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo gantā hoti?
Idha, bhikkhave, rañño nāgo yamenaṁ hatthidammasārathi disaṁ peseti—
yadi vā gatapubbaṁ yadi vā agatapubbaṁ—
taṁ khippameva gantā hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo gantā hoti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi aṅgehi samannāgato rañño nāgo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sotā ca hoti, hantā ca, khantā ca, gantā ca.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sotā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu tathāgatappavedite dhammavinaye desiyamāne aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇāti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sotā hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu hantā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti hanati byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, uppannaṁ byāpādavitakkaṁ …pe… uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ …pe… uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti hanati byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu hantā hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu khantā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu khantā hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu gantā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu yāyaṁ disā agatapubbā iminā dīghena addhunā yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ, taṁ khippaññeva gantā hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu gantā hoti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, a royal bull elephant with four factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship.
What four?
A royal bull elephant listens, destroys, endures, and goes fast.
And how does a royal bull elephant listen?
It’s when a royal bull elephant pays attention, applies the mind, concentrates wholeheartedly, and actively listens to whatever task the elephant trainer has it do,
whether or not it has done it before.
That’s how a royal bull elephant listens.
And how does a royal bull elephant destroy?
It’s when a royal bull elephant in battle destroys elephants with their riders, horses with their riders, chariots and charioteers, and foot soldiers.
That’s how a royal bull elephant destroys.
And how does a royal bull elephant endure?
It’s when a royal bull elephant in battle endures being struck by spears, swords, arrows, and axes; it endures the thunder of the drums, kettledrums, horns, and cymbals.
That’s how a royal bull elephant endures.
And how does a royal bull elephant go fast?
It’s when a royal bull elephant swiftly goes in whatever direction the elephant trainer sends it,
whether or not it has been there before.
That’s how a royal bull elephant goes fast.
A royal bull elephant with four factors is worthy of a king, fit to serve a king, and is reckoned a factor of kingship.
In the same way, a mendicant with four qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with joined palms, and is the supreme field of merit for the world.
What four?
A mendicant listens, destroys, endures, and goes fast.
And how does a mendicant listen?
It’s when a mendicant pays attention, applies the mind, concentrates wholeheartedly, and actively listens when the teaching and training proclaimed by a Realized One is being taught.
That’s how a mendicant listens.
And how does a mendicant destroy?
It’s when a mendicant doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, get rid of them, eliminate them, and obliterate them.
That’s how a mendicant destroys.
And how does a mendicant endure?
It’s when a mendicant endures cold, heat, hunger, and thirst; the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles; rude and unwelcome criticism; and they put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening.
That’s how a mendicant endures.
And how does a mendicant go fast?
It’s when a mendicant swiftly goes in the direction they’ve never gone before in all this long time; that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.
That’s how a mendicant goes fast.
A mendicant with these four qualities … is the supreme field of merit for the world.”
TTC 1—Thành tựu bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, con voi của vua xứng đáng cho vua, là tài sản của Vua, được xem là biểu tượng của vua. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua biết nghe, biết sát hại, biết nhẫn, biết đi đến.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết nghe?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, khi người nài sai làm một công tác, hoặc đã làm từ trước hay chưa làm từ trước, sau khi nhiệt tâm tác ý, hoàn toàn chú tâm lóng tai và lắng nghe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết nghe.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết sát hại?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua sau khi đi đến chiến trận, giết voi, giết người cưỡi voi, giết ngựa, giết người cưỡi ngựa, giết hại xe, giết hại người cưỡi xe, giết các bộ binh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết sát hại.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua sau khi đi đến chiến trường, chịu đựng cây giáo đâm, chịu đựng kiếm chém, chịu đựng tên bắn, chịu đựng búa chặt, chịu đựng tiếng trống lớn, tiếng thanh la, tiếng tù và, tiếng trống nhỏ và các tiếng ồn ào khác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết kham nhẫn.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con voi của vua biết đi đến?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, con voi của vua, khi người nài sai đi đến hướng nào, hoặc trước kia đã có đi hay trước kia không có đi, liền đi đến chỗ ấy một cách mau mắn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua biết đi đến.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, là con voi của vua xứng đáng là của vua, là tài sản của vua, đi đến làm biểu tượng của vua.
TTC 6Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu với bốn pháp, Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được chắp tay, xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết nghe, biết sát hại, biết kham nhẫn, biết đi đến.
TTC 7Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết nghe?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, sau khi nhiệt tâm tác ý hoàn toàn, chú tâm và lắng nghe. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết nghe.
TTC 8Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết sát hại?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có chấp nhận dục tầm đã khởi lên, từ bỏ, gạn lọc, chấm dứt, làm cho không hiện hữu, không có chấp nhận sân tầm đã khởi lên … không có chấp nhận hại tầm đã khởi lên, từ bỏ, gạn lọc, chấm dứt, làm cho không hiện hữu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết sát hại.
TTC 9Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết kham nhẫn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kham nhẫn lạnh, kham nhẫn nóng, kham nhẫn đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, kham nhẫn những cách nói chửi mắng, phỉ báng, chịu đựng các cảm thọ về thân, khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, không khả hỷ, không khả ý, chết điếng người. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết kham nhẫn.
TTC 10Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết đi?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo theo phương hướng nào từ trước chưa từng đi, tại đấy, mọi hành được chỉ tịnh, mọi sanh y được từ bỏ, ái được đoạn diệt. Niết-bàn, vị ấy đi đến chỗ ấy một cách mau chóng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết đi.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xứng đáng được cung kính, xứng đáng được tôn trọng, xứng đáng được chắp tay, xứng đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời.
“Catūhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato rañño nāgo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, rañño nāgo sotā ca hoti, hantā ca, khantā ca, gantā ca.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo sotā hoti?
Idha, bhikkhave, rañño nāgo yamenaṁ hatthidammasārathi kāraṇaṁ kāreti—
yadi vā katapubbaṁ yadi vā akatapubbaṁ—
taṁ aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto suṇāti.
Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo sotā hoti.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo hantā hoti?
Idha, bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato hatthimpi hanati, hatthāruhampi hanati, assampi hanati, assāruhampi hanati, rathampi hanati, rathikampi hanati, pattikampi hanati.
Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo hantā hoti.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo khantā hoti?
Idha bhikkhave, rañño nāgo saṅgāmagato khamo hoti sattippahārānaṁ asippahārānaṁ usuppahārānaṁ pharasuppahārānaṁ bheripaṇavasaṅkhatiṇavaninnādasaddānaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo khantā hoti.
Kathañca, bhikkhave, rañño nāgo gantā hoti?
Idha, bhikkhave, rañño nāgo yamenaṁ hatthidammasārathi disaṁ peseti—
yadi vā gatapubbaṁ yadi vā agatapubbaṁ—
taṁ khippameva gantā hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, rañño nāgo gantā hoti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi aṅgehi samannāgato rañño nāgo rājāraho hoti rājabhoggo, rañño aṅganteva saṅkhaṁ gacchati.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Katamehi catūhi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sotā ca hoti, hantā ca, khantā ca, gantā ca.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sotā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu tathāgatappavedite dhammavinaye desiyamāne aṭṭhiṁ katvā manasi katvā sabbacetasā samannāharitvā ohitasoto dhammaṁ suṇāti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sotā hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu hantā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti hanati byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, uppannaṁ byāpādavitakkaṁ …pe… uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ …pe… uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti hanati byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu hantā hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu khantā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu khamo hoti sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu khantā hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu gantā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu yāyaṁ disā agatapubbā iminā dīghena addhunā yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ, taṁ khippaññeva gantā hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu gantā hoti.
Imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Catutthaṁ.