—Có năm người chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Người ấy trong trận chiến ấy nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực và hăng hái như vậy, đánh người ấy và áp đảo người ấy. Như vậy, ở đây này các Tỷ-kheo, có hạng người chiến sĩ như vậy. Ðây là hạng chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực, hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các bà con. Khi chở người ấy đi và chưa đến các bà con, người ấy mệnh chung ở giữa đường. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng chiến sĩ như vậy. Ðây là hạng chiến sĩ thứ hai, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương và khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các bà con. Và những người bà con săn sóc và nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, trong khi được các người bà con săn sóc và nuôi dưỡng, bị mệnh chung vì vết thương ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người chiến sĩ như vậy. Ðây gọi là hạng chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương, và khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các người bà con. Và những người bà con nuôi dưỡng và săn sóc người ấy. Người ấy, trong khi được các người bà con săn sóc và nuôi dưỡng, được chữa lành các vết thương ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong chiến trận ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng chiến sĩ như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng chiến sĩ thứ năm có mặt, hiện hữu ở đời.
Năm hạng chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có những hạng người được ví dụ với năm hạng chiến sĩ này có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống dựa vào ngôi làng hay thị trấn. Vị ấy, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời, không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy thấy một nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo. Ðược thấy nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công tâm vị ấy. Tâm bị tham dục tấn công, không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém trong học pháp, vị ấy rơi vào hành dâm.
Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, cầm gươm và mâu, đeo cung và tên tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy trong trận chiến ấy nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, đánh người ấy và áp đảo người ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với hạng chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay thị trấn. Vị ấy, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực, với thân không phòng hộ, với lời nói không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không được bảo vệ. Ở đây, vị ấy thấy một nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo. Ðược thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham dục tấn công nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu cháy. Vị ấy nghĩ: “Ta hãy đi về khu vườn (chỗ Tăng ở) báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh, tôi không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, tôi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi trở về với đời sống thế tục”. Vị ấy, trên con đường đi đến khu vườn, còn ở giữa đường, biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, trở về đời sống thế tục.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy, và đưa người ấy đến các bà con, người ấy mệnh chung giữa đường. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống với ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn ấy để khất thực, thân không phòng hộ, lời nói không phòng hộ, tâm không phòng hộ, niệm không an trú, các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy thấy nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công vị ấy. Vị ấy với tham dục bị tấn công, nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu cháy. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến khu vườn báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu hiện sự yếu kém trong học tập, tôi từ bỏ học pháp, sẽ trở về với đời sống thế tục”. Các vị đồng Phạm hạnh giáo giới, khuyên bảo như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói: “Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như bó đuốc bằng cỏ, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một cơn mộng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như vật dụng mượn dùng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như quả của cây, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như lò thịt, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như cây gậy nhọn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như đầu rắn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn”. Tôn giả hãy tìm sự thoải mái trong Phạm hạnh! Tôn giả chớ biểu hiện sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp và trở lui đời sống thế tục”.
Vị ấy được các đồng Phạm hạnh giáo giới như vậy, khuyên bảo như vậy, liền nói như sau: “Này các Hiền giả, dầu cho Thế Tôn có nói các dục ngọt ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn, nhưng tôi không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh. Sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi sẽ trở về đời sống thế tục”. Sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, sau khi từ bỏ học pháp, vị ấy trở lui đời sống thế tục.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy, sau khi cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến khốc liệt. Vị ấy, trong chiến trận ấy, nỗ lực, hăng hái. Nhưng các người khác trong khi có nỗ lực, hăng hái như vậy, làm cho người bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy, và đưa người ấy đến các người bà con. Các người bà con săn sóc nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, tuy được các người bà con săn sóc nuôi dưỡng nhưng bị mệnh chung vì vết thương ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này được ví như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như vậy. Này các Tỷ kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào làng hay thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào ngôi làng hay thị trấn ấy để khất thực, với thân không phòng hộ, với lời không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy, thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo. Sau khi thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công vị ấy. Vị ấy với tâm bị tham dục tấn công, nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu đốt. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến khu vườn, báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh. Tôi tuyên bố sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, trở về với đời sống thế tục”. Vị ấy đi đến khu vườn, báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh; sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi trở về với đời sống thế tục”. Các vị đồng Phạm hạnh giáo giới khuyên bảo như sau: “Này hiền giả, Thế Tôn đã nói: “Các dục ngọt ít, đắng nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn… Các dục được Thế Tôn ví như đầu rắn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn”. Tôn giả hãy tìm sự thoải mái trong Phạm hạnh. Hiền giả chớ biểu lộ sự kém trong học tập, từ bỏ học pháp và trở lui đời sống thế tục”.
Vị ấy được các đồng giáo giới như vậy, khuyên bảo như vậy, nói như vầy: “Thưa các Hiền giả, tôi sẽ nỗ lực. Thưa các Hiền giả, tôi sẽ cố gắng. Thưa các Hiển giả, tôi sẽ sống thoải mái. Nay tôi không biểu lộ sự yếu kém trong học tập, không từ bỏ học pháp, không trở lui về đời sống thế tục”.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy và đưa người ấy đến các bà con. Các người bà con săn sóc người ấy, nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, nhờ các bà con săn sóc nuôi dưỡng, được chữa lành khỏi vết thương. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như vậy. Người này, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm bát y, vào làng hay thị trấn ấy để khất thực, với thân được phòng hộ, với lời được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được bảo vệ. Vị ấy khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Vị ấy, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến một chỗ sàng tọa trống trải, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang núi, bãi tha ma, cao nguyên, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-gà, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Vị ấy đoạn tận tham ở đời, an trú với tâm ly tham… chứng đạt và an trú sơ Thiền… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy với tâm định tĩnh, trong sáng, không cấu uế, các phiền não được đoạn trừ, nhu nhuyến, kham nhẫn, kiên trì, bất động, hướng tâm về trí đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy như thật rõ biết: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đi đến khổ diệt… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Người ấy, sau khi chiến thắng trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng đầu trong chiến trận ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Ðây là hạng người được ví dụ với chiến sĩ thứ năm, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
Này các Tỷ-kheo, có năm hạng người được ví dụ với năm người chiến sĩ này, có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo.
“Pañcime, bhikkhave, yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti;
apanetvā ñātakānaṁ nenti.
So ñātakehi nīyamāno appatvāva ñātake antarāmagge kālaṁ karoti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti;
apanetvā ñātakānaṁ nenti.
Tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti.
So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno teneva ābādhena kālaṁ karoti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti;
apanetvā ñātakānaṁ nenti.
Tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti.
So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno vuṭṭhāti tamhā ābādhā.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsitena cittena sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So ārāmaṁ gacchanto appatvāva ārāmaṁ antarāmagge sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti. So ñātakehi nīyamāno appatvāva ñātake antarāmagge kālaṁ karoti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceti:
‘rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Tamenaṁ sabrahmacārī ovadanti anusāsanti:
‘appassādā, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Abhiramatāyasmā brahmacariye;
māyasmā sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattī’ti.
So sabrahmacārīhi evaṁ ovadiyamāno evaṁ anusāsiyamāno evamāha:
‘kiñcāpi, āvuso, appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo;
atha kho nevāhaṁ sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ, sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti, tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti. So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno teneva ābādhena kālaṁ karoti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceti:
‘rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Tamenaṁ sabrahmacārī ovadanti anusāsanti:
‘appassādā, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe… tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā … aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā … supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā … asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Abhiramatāyasmā brahmacariye;
māyasmā sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattī’ti.
So sabrahmacārīhi evaṁ ovadiyamāno evaṁ anusāsiyamāno evamāha:
‘ussahissāmi, āvuso, vāyamissāmi, āvuso, abhiramissāmi, āvuso.
Na dānāhaṁ, āvuso, sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti, tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti. So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno vuṭṭhāti tamhā ābādhā; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati rakkhiteneva kāyena rakkhitāya vācāya rakkhitena cittena upaṭṭhitāya satiyā saṁvutehi indriyehi.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṁ; cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṁ; manindriye saṁvaraṁ āpajjati.
So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto
vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So abhijjhaṁ loke pahāya …pe… so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe
vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsū”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Monks, there are these five types of warriors who can be found existing in the world. Which five?
“There is the case of a warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. There in the battle he strives & makes effort. But while he is striving & making an effort, his opponents strike him down and finish him off. Some warriors are like this. This is the first type of warrior who can be found existing in the world.
“Then there is the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. There in the battle he strives & makes effort. But while he is striving & making an effort, his opponents wound him. He gets carried out and taken to his relatives. But while he is being taken to his relatives, before he has reached them he dies along the way. Some warriors are like this. This is the second type of warrior who can be found existing in the world.
“Then there is the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. There in the battle he strives & makes effort. But while he is striving & making an effort, his opponents wound him. He gets carried out and taken to his relatives, who nurse him and care for him, but he dies of that injury. Some warriors are like this. This is the third type of warrior who can be found existing in the world.
“Then there is the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. There in the battle he strives & makes effort. But while he is striving & making an effort, his opponents wound him. He gets carried out and taken to his relatives. His relatives nurse him and care for him, and he recovers from his injury. Some warriors are like this. This is the fourth type of warrior who can be found existing in the world.
“Then there is the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. On winning the battle, victorious in battle, he comes out at the very head of the battle. Some warriors are like this. This is the fifth type of warrior who can be found existing in the world.
“These are the five types of warriors who can be found existing in the world.
“In the same way, monks, there are these five warrior-like individuals who can be found existing among the monks. Which five?
[1] “There is the case of the monk who dwells in dependence on a certain village or town. Early in the morning, having put on his robes and carrying his bowl & outer robe, he goes into the village or town for alms—with his body, speech, & mind unprotected, with mindfulness unestablished, with his sense faculties unguarded. There he sees a woman improperly dressed or half-naked. As he sees her improperly dressed or half-naked, lust ravages his mind. With his mind ravaged by lust, he—without renouncing the training, without declaring his weakness—engages in sexual intercourse. This individual, I tell you, is like the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. There in the battle he strives & makes effort. But while he is striving & making an effort, his opponents strike him down and finish him off. Some individuals are like this. This is the first type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
[2] “Then there is the case of the monk who dwells in dependence on a certain village or town. Early in the morning, having put on his robes and carrying his bowl & outer robe, he goes into the village or town for alms—with his body, speech, & mind unprotected, with mindfulness unestablished, with his sense faculties unguarded. There he sees a woman improperly dressed or half-naked. As he sees her improperly dressed or half-naked, lust ravages his mind. With his mind ravaged by lust, he burns in body & mind. The thought occurs to him: ‘What if I were to go to the monastery and tell the monks: “Friends, I am assailed by lust, overcome by lust. I can’t continue in the holy life. Declaring my weakness in the training, renouncing the training, I will return to the lower life."’ He heads toward the monastery, but before he arrives there, along the way, he declares his weakness in the training, renounces the training, and returns to the lower life. This individual, I tell you, is like the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. There in the battle he strives & makes effort. But while he is striving & making an effort, his opponents wound him. He gets carried out and taken to his relatives. But while he is being taken to his relatives, before he has reached them he dies along the way. Some individuals are like this. This is the second type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
[3] “Then there is the case of the monk who dwells in dependence on a certain village or town. Early in the morning, having put on his robes and carrying his bowl & outer robe, he goes into the village or town for alms—with his body, speech, & mind unprotected, with mindfulness unestablished, with his sense faculties unguarded. There he sees a woman improperly dressed or half-naked. As he sees her improperly dressed or half-naked, lust ravages his mind. With his mind ravaged by lust, he burns in body & mind. The thought occurs to him: ‘What if I were to go to the monastery and tell the monks: “Friends, I am assailed by lust, overcome by lust. I can’t continue in the holy life. Declaring my weakness in the training, renouncing the training, I will return to the lower life."’ Going to the monastery, he tells the monks, ‘Friends, I am assailed by lust, overcome by lust. I can’t continue in the holy life. Declaring my weakness in the training, renouncing the training, I will return to the lower life.’
“Then his companions in the holy life admonish & instruct him, ‘Friend, the Blessed One has said that sensual pleasures are of little satisfaction, of much stress, much despair, & greater drawbacks. The Blessed One has compared sensual pleasures to a chain of bones—of much stress, much despair, & greater drawbacks. He has compared sensual pleasures to a lump of flesh… a grass torch… a pit of glowing embers… a dream… borrowed goods… the fruits of a tree… a slaughterhouse… spears & swords… a poisonous snake—of much stress, much despair, & greater drawbacks. Find delight, friend, in the holy life. Don’t declare your weakness in the training, renounce the training, or return to the lower life.’
“Thus admonished & instructed by his companions in the holy life, he says, ‘Even though the Blessed One has said that sensual pleasures are of little satisfaction, of much stress, much despair, & greater drawbacks, still I can’t continue in the holy life. Declaring my weakness in the training, renouncing the training, I will return to the lower life.’ So he declares his weakness in the training, renounces the training, and returns to the lower life. This individual, I tell you, is like the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. There in the battle he strives & makes effort. But while he is striving & making an effort, his opponents wound him. He gets carried out and taken to his relatives, who nurse him and care for him, but he dies of that injury. Some individuals are like this. This is the third type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
[4] “Then there is the case of the monk who dwells in dependence on a certain village or town. Early in the morning, having put on his robes and carrying his bowl & outer robe, he goes into the village or town for alms—with his body, speech, & mind unprotected, with mindfulness unestablished, with his sense faculties unguarded. There he sees a woman improperly dressed or half-naked. As he sees her improperly dressed or half-naked, lust ravages his mind. With his mind ravaged by lust, he burns in body & mind. The thought occurs to him: ‘What if I were to go to the monastery and tell the monks: “Friends, I am assailed by lust, overcome by lust. I can’t continue in the holy life. Declaring my weakness in the training, renouncing the training, I will return to the lower life."’ Going to the monastery, he tells the monks, ‘Friends, I am assailed by lust, overcome by lust. I can’t continue in the holy life. Declaring my weakness in the training, renouncing the training, I will return to the lower life.’
“Then his companions in the holy life admonish & instruct him, ‘Friend, the Blessed One has said that sensual pleasures are of little satisfaction, of much stress, much despair, & greater drawbacks. The Blessed One has compared sensual pleasures to a chain of bones—of much stress, much despair, & greater drawbacks. He has compared sensual pleasures to a lump of flesh… a grass torch… a pit of glowing embers… a dream… borrowed goods… the fruits of a tree… a slaughterhouse… spears & swords… a poisonous snake—of much stress, much despair, & greater drawbacks. Find delight, friend, in the holy life. Don’t declare your weakness in the training, renounce the training, or return to the lower life.’
“Thus admonished & instructed by his companions in the holy life, he responds, ‘I will strive, friends. I will remember. I will find delight in the holy life. I won’t yet declare my weakness in the training, renounce the training, or return to the lower life.’ This individual, I tell you, is like the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. There in the battle he strives & makes effort. But while he is striving & making an effort, his opponents wound him. He gets carried out and taken to his relatives, who nurse him and care for him, and he recovers from his injury. Some individuals are like this. This is the fourth type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
[5] “Then there is the case of the monk who dwells in dependence on a certain village or town. Early in the morning, having put on his robes and carrying his bowl & outer robe, he goes into the village or town for alms—with his body, speech, & mind protected, with mindfulness established, with his sense faculties guarded. On seeing a form with the eye, does not grasp at any theme or particulars by which—if he were to dwell without restraint over the faculty of the eye—evil, unskillful qualities such as greed or distress might assail him. He practices with restraint. He guards the faculty of the eye. He achieves restraint with regard to the faculty of the eye.
“On hearing a sound with the ear…
“On smelling an aroma with the nose…
“On tasting a flavor with the tongue…
“On touching a tactile sensation with the body…
“On cognizing an idea with the intellect, he does not grasp at any theme or particulars by which—if he were to dwell without restraint over the faculty of the intellect—evil, unskillful qualities such as greed or distress might assail him. He practices with restraint. He guards the faculty of the intellect. He achieves restraint with regard to the faculty of the intellect.
“Returning from his almsround, after his meal, he resorts to a secluded dwelling place: the wilderness, the foot of a tree, a mountain, a glen, a hillside cave, a charnel ground, a forest grove, the open air, a haystack. Having gone to the wilderness, the foot of a tree, or an empty building, he sits down, crosses his legs, holds his body erect, and brings mindfulness to the fore.
“Abandoning covetousness with regard to the world, he dwells with an awareness devoid of covetousness. He cleanses his mind of covetousness. Abandoning ill will & anger, he dwells with an awareness devoid of ill will, sympathetic with the welfare of all living beings. He cleanses his mind of ill will & anger. Abandoning sloth & drowsiness, he dwells with an awareness devoid of sloth & drowsiness, mindful, alert, percipient of light. He cleanses his mind of sloth & drowsiness. Abandoning restlessness & anxiety, he dwells undisturbed, his mind inwardly stilled. He cleanses his mind of restlessness & anxiety. Abandoning uncertainty, he dwells having crossed over uncertainty, with no perplexity with regard to skillful mental qualities. He cleanses his mind of uncertainty.
“Having abandoned these five hindrances, corruptions of awareness that weaken discernment, then—quite withdrawn from sensuality, withdrawn from unskillful [mental] qualities—he enters & remains in the first jhana: rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation. With the stilling of directed thoughts & evaluations, he enters & remains in the second jhana: rapture & pleasure born of concentration, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance. With the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters & remains in the third jhana, of which the Noble Ones declare, ‘Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding.’ With the abandoning of pleasure & pain—as with the earlier disappearance of elation & distress—he enters & remains in the fourth jhana: purity of equanimity & mindfulness, neither pleasure nor pain.
“With his mind thus concentrated, purified, & bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, & attained to imperturbability, he directs and inclines it to the knowledge of the ending of the mental fermentations. He discerns, as it has come to be, that ‘This is stress… This is the origination of stress… This is the cessation of stress… This is the way leading to the cessation of stress… These are mental fermentations… This is the origination of fermentations… This is the cessation of fermentations… This is the way leading to the cessation of fermentations.’ His heart, thus knowing, thus seeing, is released from the fermentation of sensuality, the fermentation of becoming, the fermentation of ignorance. With release, there is the knowledge, ‘Released.’ He discerns that ‘Birth is ended, the holy life fulfilled, the task done. There is nothing further for this world.’
“This individual, I tell you, is like the warrior who—taking his sword & shield, strapping on his bow & quiver—goes down into the thick of battle. On winning the battle, victorious in battle, he comes out at the very head of the battle. Some individuals are like this. This is the fifth type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
“These are the five warrior-like individuals who can be found existing among the monks.”
—Có năm người chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Người ấy trong trận chiến ấy nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực và hăng hái như vậy, đánh người ấy và áp đảo người ấy. Như vậy, ở đây này các Tỷ-kheo, có hạng người chiến sĩ như vậy. Ðây là hạng chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực, hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các bà con. Khi chở người ấy đi và chưa đến các bà con, người ấy mệnh chung ở giữa đường. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng chiến sĩ như vậy. Ðây là hạng chiến sĩ thứ hai, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương và khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các bà con. Và những người bà con săn sóc và nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, trong khi được các người bà con săn sóc và nuôi dưỡng, bị mệnh chung vì vết thương ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người chiến sĩ như vậy. Ðây gọi là hạng chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác làm cho người ấy bị thương, và khiêng người ấy đi, chở người ấy đến các người bà con. Và những người bà con nuôi dưỡng và săn sóc người ấy. Người ấy, trong khi được các người bà con săn sóc và nuôi dưỡng, được chữa lành các vết thương ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chiến sĩ như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong chiến trận ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng chiến sĩ như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng chiến sĩ thứ năm có mặt, hiện hữu ở đời.
Năm hạng chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có những hạng người được ví dụ với năm hạng chiến sĩ này có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sống dựa vào ngôi làng hay thị trấn. Vị ấy, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn để khất thực, không phòng hộ thân, không phòng hộ lời, không phòng hộ tâm, niệm không an trú, các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy thấy một nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo. Ðược thấy nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công tâm vị ấy. Tâm bị tham dục tấn công, không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém trong học pháp, vị ấy rơi vào hành dâm.
Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, cầm gươm và mâu, đeo cung và tên tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy trong trận chiến ấy nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, đánh người ấy và áp đảo người ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với hạng chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay thị trấn. Vị ấy, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào làng ấy hay thị trấn ấy để khất thực, với thân không phòng hộ, với lời nói không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không được bảo vệ. Ở đây, vị ấy thấy một nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo. Ðược thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công tâm vị ấy. Vị ấy, với tâm bị tham dục tấn công nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu cháy. Vị ấy nghĩ: “Ta hãy đi về khu vườn (chỗ Tăng ở) báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh, tôi không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, tôi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi trở về với đời sống thế tục”. Vị ấy, trên con đường đi đến khu vườn, còn ở giữa đường, biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, trở về đời sống thế tục.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy, trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy, và đưa người ấy đến các bà con, người ấy mệnh chung giữa đường. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống với ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào làng hay thị trấn ấy để khất thực, thân không phòng hộ, lời nói không phòng hộ, tâm không phòng hộ, niệm không an trú, các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy thấy nữ nhân ăn mặc không tề chỉnh, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công vị ấy. Vị ấy với tham dục bị tấn công, nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu cháy. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến khu vườn báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu hiện sự yếu kém trong học tập, tôi từ bỏ học pháp, sẽ trở về với đời sống thế tục”. Các vị đồng Phạm hạnh giáo giới, khuyên bảo như sau: “Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói: “Các dục vị ngọt ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như bó đuốc bằng cỏ, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như một cơn mộng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như vật dụng mượn dùng, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như quả của cây, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như lò thịt, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như cây gậy nhọn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn. Các dục được Thế Tôn ví dụ như đầu rắn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn”. Tôn giả hãy tìm sự thoải mái trong Phạm hạnh! Tôn giả chớ biểu hiện sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp và trở lui đời sống thế tục”.
Vị ấy được các đồng Phạm hạnh giáo giới như vậy, khuyên bảo như vậy, liền nói như sau: “Này các Hiền giả, dầu cho Thế Tôn có nói các dục ngọt ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn, nhưng tôi không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh. Sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi sẽ trở về đời sống thế tục”. Sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, sau khi từ bỏ học pháp, vị ấy trở lui đời sống thế tục.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy, sau khi cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến khốc liệt. Vị ấy, trong chiến trận ấy, nỗ lực, hăng hái. Nhưng các người khác trong khi có nỗ lực, hăng hái như vậy, làm cho người bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy, và đưa người ấy đến các người bà con. Các người bà con săn sóc nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, tuy được các người bà con săn sóc nuôi dưỡng nhưng bị mệnh chung vì vết thương ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này được ví như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như vậy. Này các Tỷ kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào làng hay thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi vào ngôi làng hay thị trấn ấy để khất thực, với thân không phòng hộ, với lời không phòng hộ, với tâm không phòng hộ, với niệm không an trú, với các căn không được bảo vệ. Vị ấy ở đấy, thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo. Sau khi thấy nữ nhân ăn mặc không chỉnh tề, ăn mặc không kín đáo, tham dục tấn công vị ấy. Vị ấy với tâm bị tham dục tấn công, nên thân bị thiêu cháy, tâm bị thiêu đốt. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Ta hãy đi đến khu vườn, báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh. Tôi tuyên bố sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, trở về với đời sống thế tục”. Vị ấy đi đến khu vườn, báo tin cho các Tỷ-kheo: “Này các Hiền giả, tôi bị tham dục tràn ngập, bị tham dục ám ảnh. Tôi không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh; sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, từ bỏ học pháp, tôi trở về với đời sống thế tục”. Các vị đồng Phạm hạnh giáo giới khuyên bảo như sau: “Này hiền giả, Thế Tôn đã nói: “Các dục ngọt ít, đắng nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn… Các dục được Thế Tôn ví như đầu rắn, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hại ở đây lại nhiều hơn”. Tôn giả hãy tìm sự thoải mái trong Phạm hạnh. Hiền giả chớ biểu lộ sự kém trong học tập, từ bỏ học pháp và trở lui đời sống thế tục”.
Vị ấy được các đồng giáo giới như vậy, khuyên bảo như vậy, nói như vầy: “Thưa các Hiền giả, tôi sẽ nỗ lực. Thưa các Hiền giả, tôi sẽ cố gắng. Thưa các Hiển giả, tôi sẽ sống thoải mái. Nay tôi không biểu lộ sự yếu kém trong học tập, không từ bỏ học pháp, không trở lui về đời sống thế tục”.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Vị ấy trong trận chiến ấy, nỗ lực hăng hái. Nhưng các người khác, trong khi người ấy nỗ lực hăng hái như vậy, làm cho người ấy bị thương, khiêng người ấy đi, chở người ấy và đưa người ấy đến các bà con. Các người bà con săn sóc người ấy, nuôi dưỡng người ấy. Người ấy, nhờ các bà con săn sóc nuôi dưỡng, được chữa lành khỏi vết thương. Ta tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người như vậy. Người này, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống dựa vào một làng hay một thị trấn. Vị ấy vào buổi sáng đắp y, cầm bát y, vào làng hay thị trấn ấy để khất thực, với thân được phòng hộ, với lời được phòng hộ, với tâm được phòng hộ, với niệm được an trú, với các căn được bảo vệ. Vị ấy khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn.
Vị ấy, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến một chỗ sàng tọa trống trải, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe núi, hang núi, bãi tha ma, cao nguyên, ngoài trời, đống rơm. Vị ấy đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-gà, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Vị ấy đoạn tận tham ở đời, an trú với tâm ly tham… chứng đạt và an trú sơ Thiền… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy với tâm định tĩnh, trong sáng, không cấu uế, các phiền não được đoạn trừ, nhu nhuyến, kham nhẫn, kiên trì, bất động, hướng tâm về trí đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy như thật rõ biết: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đi đến khổ diệt… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ ấy cầm kiếm và mâu, đeo cung và tên, tham gia vào trận chiến ác liệt. Người ấy, sau khi chiến thắng trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng đầu trong chiến trận ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có một hạng người như vậy. Ðây là hạng người được ví dụ với chiến sĩ thứ năm, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
Này các Tỷ-kheo, có năm hạng người được ví dụ với năm người chiến sĩ này, có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo.
“Pañcime, bhikkhave, yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti;
apanetvā ñātakānaṁ nenti.
So ñātakehi nīyamāno appatvāva ñātake antarāmagge kālaṁ karoti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti;
apanetvā ñātakānaṁ nenti.
Tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti.
So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno teneva ābādhena kālaṁ karoti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati.
Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti;
apanetvā ñātakānaṁ nenti.
Tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti.
So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno vuṭṭhāti tamhā ābādhā.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati.
So taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsitena cittena sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So ārāmaṁ gacchanto appatvāva ārāmaṁ antarāmagge sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti. So ñātakehi nīyamāno appatvāva ñātake antarāmagge kālaṁ karoti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceti:
‘rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Tamenaṁ sabrahmacārī ovadanti anusāsanti:
‘appassādā, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Abhiramatāyasmā brahmacariye;
māyasmā sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattī’ti.
So sabrahmacārīhi evaṁ ovadiyamāno evaṁ anusāsiyamāno evamāha:
‘kiñcāpi, āvuso, appassādā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo;
atha kho nevāhaṁ sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ, sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti, tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti. So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno teneva ābādhena kālaṁ karoti; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi. Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya arakkhitena cittena anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi.
So tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
Tassa taṁ mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
So rāgānuddhaṁsitena cittena pariḍayhateva kāyena pariḍayhati cetasā.
Tassa evaṁ hoti:
‘yannūnāhaṁ ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceyyaṁ—
rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
So ārāmaṁ gantvā bhikkhūnaṁ āroceti:
‘rāgapariyuṭṭhitomhi, āvuso, rāgapareto, na sakkomi brahmacariyaṁ sandhāretuṁ;
sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Tamenaṁ sabrahmacārī ovadanti anusāsanti:
‘appassādā, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā …pe… tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā … aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā … supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā … rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā … asisūnūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sattisūlūpamā kāmā vuttā bhagavatā … sappasirūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo.
Abhiramatāyasmā brahmacariye;
māyasmā sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattī’ti.
So sabrahmacārīhi evaṁ ovadiyamāno evaṁ anusāsiyamāno evamāha:
‘ussahissāmi, āvuso, vāyamissāmi, āvuso, abhiramissāmi, āvuso.
Na dānāhaṁ, āvuso, sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattissāmī’ti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so tasmiṁ saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare upalikkhanti, tamenaṁ apanenti; apanetvā ñātakānaṁ nenti, tamenaṁ ñātakā upaṭṭhahanti paricaranti. So ñātakehi upaṭṭhahiyamāno paricariyamāno vuṭṭhāti tamhā ābādhā; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu aññataraṁ gāmaṁ vā nigamaṁ vā upanissāya viharati.
So pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya tameva gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati rakkhiteneva kāyena rakkhitāya vācāya rakkhitena cittena upaṭṭhitāya satiyā saṁvutehi indriyehi.
So cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati cakkhundriyaṁ; cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
Sotena saddaṁ sutvā …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ, tassa saṁvarāya paṭipajjati; rakkhati manindriyaṁ; manindriye saṁvaraṁ āpajjati.
So pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto
vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So abhijjhaṁ loke pahāya …pe… so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe
vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānāti.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo asicammaṁ gahetvā dhanukalāpaṁ sannayhitvā viyūḷhaṁ saṅgāmaṁ otarati, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati; tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsū”ti.
Chaṭṭhaṁ.