TTC 1—Có năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
TTC 2“Ta phải bị già, không thoát khỏi già” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
TTC 3Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.
Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, ta không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?
TTC 4Có những loài hữu tình khỏe mạnh, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong khỏe mạnh. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn khỏe mạnh trong khỏe mạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.
Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, ta không thoát khỏi chết”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?
TTC 5Có những lời hữu tình đang sống, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong sự sống. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn sự sống trong sự sống được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.
Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?
TTC 6Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, có lòng tham dục đối với các vật khả ái. Do say đắm với lòng tham dục ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, nên tham dục đối với các vật khả ái được đoạn tận hoàn toàn hay được giảm thiểu.
Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?
TTC 7Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát như vậy, ác hạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
TTC 8Nếu vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta già, không thoát khỏi già, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị già, không thoát khỏi già”. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt. “Không phải chỉ một mình ta bị bệnh, không thoát khỏi bệnh, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh”. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt. “Không phải chỉ một mình ta bị chết, không thoát khỏi chết, nhưng phàm có những loài hữu tình nào, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy phải bị chết, không thoát khỏi chết…” … “Không phải chỉ có các pháp khả ái, khả ý của riêng một mình ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, các pháp khả ái, khả ý của tất cả loài hữu tình ấy sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt…”. “Không phải chỉ có một mình ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào họ sẽ làm thiện hay ác, họ sẽ thừa tự nghiệp ấy.
Do vị ấy thường xuyên quán sát dự kiện ấy, nên con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử dụng được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
Bị bệnh và bị già,
Lại thêm phải bị chết,
Pháp yếu là như vậy,
Hữu tình là như vậy.
Phàm phu sanh nhàm chán,
Thật không hợp cho Ta,
Nếu Ta cũng nhàm chán,
Ðối với các chúng sanh,
Cùng chung một số phận.
Trong khi đời sống Ta,
Không khác gì đời họ,
Ta được sống như vậy,
Biết pháp không sanh y,
Kiêu mạn trong không bệnh,
Trong tuổi trẻ sinh mạng,
Tất cả Ta nhiếp phục
Phát xuất từ an ổn,
Ta thấy hạnh viễn ly,
Ta phát tâm dõng mãnh,
Thấy được cảnh Niết-bàn.
Nay Ta không có thể,
Hưởng thọ các dục vọng,
Ta sẽ không thối đọa,
Chứng cứu cánh Phạm hạnh.
“Pañcimāni, bhikkhave, ṭhānāni abhiṇhaṁ paccavekkhitabbāni itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Katamāni pañca?
‘Jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
‘Byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
‘Maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
‘Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
‘Kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo.
Yaṁ kammaṁ karissāmi—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—
tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ yobbane yobbanamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo yobbane yobbanamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ ārogye ārogyamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo ārogye ārogyamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ jīvite jīvitamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo jīvite jīvitamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ piyesu manāpesu yo chandarāgo yena rāgena rattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo piyesu manāpesu chandarāgo so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ kāyaduccaritaṁ vacīduccaritaṁ manoduccaritaṁ.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato sabbaso vā duccaritaṁ pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—
tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Sa kho so, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘na kho ahaññeveko jarādhammo jaraṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā jarādhammā jaraṁ anatītā’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti anusayā byantīhonti.
‘Na kho ahaññeveko byādhidhammo byādhiṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā byādhidhammā byādhiṁ anatītā’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.
‘Na kho ahaññeveko maraṇadhammo maraṇaṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā maraṇadhammā maraṇaṁ anatītā’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.
‘Na kho mayhevekassa sabbehi piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.
‘Na kho ahaññeveko kammassako kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādo bhavissāmi;
atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā kammassakā kammadāyādā kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karissanti—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavissantī’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhontīti.
Byādhidhammā jarādhammā,
atho maraṇadhammino;
Yathā dhammā tathā sattā,
jigucchanti puthujjanā.
Ahañce taṁ jiguccheyyaṁ,
evaṁ dhammesu pāṇisu;
Na metaṁ patirūpassa,
mama evaṁ vihārino.
Sohaṁ evaṁ viharanto,
ñatvā dhammaṁ nirūpadhiṁ;
Ārogye yobbanasmiñca,
jīvitasmiñca ye madā.
Sabbe made abhibhosmi,
Nekkhammaṁ daṭṭhu khemato;
Tassa me ahu ussāho,
Nibbānaṁ abhipassato.
Nāhaṁ bhabbo etarahi,
Kāmāni paṭisevituṁ;
Anivatti bhavissāmi,
Brahmacariyaparāyaṇo”ti.
Sattamaṁ.
SC 1“Monks, there are five things that should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic. What five?
SC 2“‘I am subject to decay; I am not exempt from decay.’ This should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 3“‘I am subject to sickness; I am not exempt from sickness.’ This should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 4“‘I am subject to dieing; I am not exempt from dieing.’ This should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 5“‘Everything that is beloved and pleasing will change and be separated from me.’ This should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 6“‘I am the owner of my karma, the recipient of my karma, born from my karma, bound to my karma, inseparable from my karma. Any action that I do – whether it is good or evil – I will receive its result.’ This should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 7“Monks, for what benefit should ‘I am subject to decay; I am not exempt from decay’ be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic? Monks, there are beings who are intoxicated with youth. Because of that intoxication, they engage in physical misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. When they frequently contemplate this, that intoxication with youth is either completely abandoned or diminished. Monks, it is for this benefit that ‘I am subject to decay; I am not exempt from decay’ should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 8“Monks, for what benefit should ‘I am subject to sickness; I am not exempt from sickness’ be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic? Monks, there are beings who are intoxicated with health. Because of that intoxication, they engage in physical misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. When they frequently contemplate this, that intoxication with health is either completely abandoned or diminished. Monks, it is for this benefit that ‘I am subject to sickness; I am not exempt from sickness’ should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 9“Monks, for what benefit should ‘I am subject to dieing; I am not exempt from dieing’ be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic? Monks, there are beings who are intoxicated with life. Because of that intoxication, they engage in physical misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. When they frequently contemplate this, that intoxication with life is either completely abandoned or diminished. Monks, it is for this benefit that ‘I am subject to dieing; I am not exempt from dieing’ should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 10“Monks, for what benefit should ‘Everything that is beloved and pleasing will change and be separated from me’ be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic? Monks, there are beings who have interest and passion for things that are beloved and pleasing. Because of that passion, they engage in physical misconduct, verbal misconduct, and mental misconduct. When they frequently contemplate this, that interest and passion for things that are beloved and pleasing is either completely abandoned or diminished. Monks, it is for this benefit that ‘Everything that is beloved and pleasing will change and be separated from me’ should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 11“Monks, for what benefit should ‘I am the owner of my karma, the recipient of my karma, born from my karma, bound to my karma, inseparable from my karma. Any action that I do – whether it is good or evil – I will receive its result’ be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic? Monks, there are beings who have committed physical misconduct, verbal misconduct, or mental misconduct. When they frequently contemplate this, that misconduct is either completely abandoned or diminished. Monks, it is for this benefit that ‘I am the owner of my karma, the recipient of my karma, born from my karma, bound to my karma, inseparable from my karma. Any action that I do – whether it is good or evil – I will receive its result’ should be frequently contemplated, whether one is a woman or a man, a layperson or a monastic.
SC 12“Monks, a disciple of the noble ones considers this: ‘It is not just me that is subject to decay and not exempt from decay. All beings that come and go, die and reappear, are subject to decay and are not exempt from decay.’ When one frequently contemplates this, the path is produced. One practices that path, develops it, and commits to it. When one practices that path, develops it, and commits to it, the fetters are completely abandoned and the underlying tendencies are destroyed.
SC 13“Monks, a disciple of the noble ones considers this: ‘It is not just me that is subject to sickness and not exempt from sickness. All beings that come and go, die and reappear, are subject to sickness and are not exempt from sickness.’ When one frequently contemplates this, the path is produced. One practices that path, develops it, and commits to it. When one practices that path, develops it, and commits to it, the fetters are completely abandoned and the underlying tendencies are destroyed.
SC 14“Monks, a disciple of the noble ones considers this: ‘It is not just me that is subject to dieing and not exempt from dieing. All beings that come and go, die and reappear, are subject to dieing and are not exempt from dieing.’ When one frequently contemplates this, the path is produced. One practices that path, develops it, and commits to it. When one practices that path, develops it, and commits to it, the fetters are completely abandoned and the underlying tendencies are destroyed.
SC 15“Monks, a disciple of the noble ones considers this: ‘It is not just what is beloved and pleasing to me that changes and is separated from me. What is beloved and pleasing to all beings that come and go, die and reappear, changes and is separated from them.’ When one frequently contemplates this, the path is produced. One practices that path, develops it, and commits to it. When one practices that path, develops it, and commits to it, the fetters are completely abandoned and the underlying tendencies are destroyed.
SC 16“Monks, a disciple of the noble ones considers this: ‘It is not just me that is the owner of my karma, the recipient of my karma, born from my karma, bound to my karma, inseparable from my karma, and that receives the result of any action I do – whether it is good or evil. All beings that come and go, die and reappear, are the owners of their karma, the recipients of their karma, born from their karma, bound to their karma, inseparable from their karma, and receive the results of any actions that they do – whether those actions are good or evil.’ When one frequently contemplates this, the path is produced. One practices that path, develops it, and commits to it. When one practices that path, develops it, and commits to it, the fetters are completely abandoned and the underlying tendencies are destroyed.
SC 17“Subject to sickness, subject to decay, and subject to dieing;
This is the nature of beings, which ordinary people despise.
SC 18If I despise that, and the beings who have that nature,
It would not be appropriate, as I am just the same.
SC 19Considering this, I knew the state free of acquisition,
I knew intoxication with health, youth, and life.
SC 20I overcame all intoxication, and saw the safety of renunciation.
I made an effort, and saw Nibbāna.
SC 21Now it is not possible for me to indulge in sensuality.
I will not return – I have completed the spiritual life.”
TTC 1—Có năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?
TTC 2“Ta phải bị già, không thoát khỏi già” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
TTC 3Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.
Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, ta không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?
TTC 4Có những loài hữu tình khỏe mạnh, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong khỏe mạnh. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn khỏe mạnh trong khỏe mạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.
Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, ta không thoát khỏi chết”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?
TTC 5Có những lời hữu tình đang sống, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong sự sống. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn sự sống trong sự sống được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu.
Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?
TTC 6Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, có lòng tham dục đối với các vật khả ái. Do say đắm với lòng tham dục ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, nên tham dục đối với các vật khả ái được đoạn tận hoàn toàn hay được giảm thiểu.
Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?
TTC 7Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát như vậy, ác hạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.
TTC 8Nếu vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, suy tư như sau: “Không phải chỉ một mình ta già, không thoát khỏi già, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị già, không thoát khỏi già”. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt. “Không phải chỉ một mình ta bị bệnh, không thoát khỏi bệnh, nhưng phàm có những loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình ấy phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh”. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt. “Không phải chỉ một mình ta bị chết, không thoát khỏi chết, nhưng phàm có những loài hữu tình nào, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy phải bị chết, không thoát khỏi chết…” … “Không phải chỉ có các pháp khả ái, khả ý của riêng một mình ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, các pháp khả ái, khả ý của tất cả loài hữu tình ấy sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt…”. “Không phải chỉ có một mình ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”. Phàm có các loài hữu tình nào có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình ấy là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào họ sẽ làm thiện hay ác, họ sẽ thừa tự nghiệp ấy.
Do vị ấy thường xuyên quán sát dự kiện ấy, nên con đường được sanh khởi. Vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy sử dụng con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, nên các kiết sử dụng được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.
Bị bệnh và bị già,
Lại thêm phải bị chết,
Pháp yếu là như vậy,
Hữu tình là như vậy.
Phàm phu sanh nhàm chán,
Thật không hợp cho Ta,
Nếu Ta cũng nhàm chán,
Ðối với các chúng sanh,
Cùng chung một số phận.
Trong khi đời sống Ta,
Không khác gì đời họ,
Ta được sống như vậy,
Biết pháp không sanh y,
Kiêu mạn trong không bệnh,
Trong tuổi trẻ sinh mạng,
Tất cả Ta nhiếp phục
Phát xuất từ an ổn,
Ta thấy hạnh viễn ly,
Ta phát tâm dõng mãnh,
Thấy được cảnh Niết-bàn.
Nay Ta không có thể,
Hưởng thọ các dục vọng,
Ta sẽ không thối đọa,
Chứng cứu cánh Phạm hạnh.
“Pañcimāni, bhikkhave, ṭhānāni abhiṇhaṁ paccavekkhitabbāni itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Katamāni pañca?
‘Jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
‘Byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
‘Maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
‘Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
‘Kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo.
Yaṁ kammaṁ karissāmi—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—
tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ yobbane yobbanamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo yobbane yobbanamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘jarādhammomhi, jaraṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ ārogye ārogyamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo ārogye ārogyamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘byādhidhammomhi, byādhiṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ jīvite jīvitamado, yena madena mattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo jīvite jīvitamado so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘maraṇadhammomhi, maraṇaṁ anatīto’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ piyesu manāpesu yo chandarāgo yena rāgena rattā kāyena duccaritaṁ caranti, vācāya duccaritaṁ caranti, manasā duccaritaṁ caranti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato yo piyesu manāpesu chandarāgo so sabbaso vā pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Kiñca, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā?
Atthi, bhikkhave, sattānaṁ kāyaduccaritaṁ vacīduccaritaṁ manoduccaritaṁ.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato sabbaso vā duccaritaṁ pahīyati tanu vā pana hoti.
Idaṁ kho, bhikkhave, atthavasaṁ paṭicca ‘kammassakomhi, kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi—
kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—
tassa dāyādo bhavissāmī’ti abhiṇhaṁ paccavekkhitabbaṁ itthiyā vā purisena vā gahaṭṭhena vā pabbajitena vā.
Sa kho so, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘na kho ahaññeveko jarādhammo jaraṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā jarādhammā jaraṁ anatītā’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti anusayā byantīhonti.
‘Na kho ahaññeveko byādhidhammo byādhiṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā byādhidhammā byādhiṁ anatītā’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.
‘Na kho ahaññeveko maraṇadhammo maraṇaṁ anatīto, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā maraṇadhammā maraṇaṁ anatītā’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.
‘Na kho mayhevekassa sabbehi piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo, atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbesaṁ sattānaṁ piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhonti.
‘Na kho ahaññeveko kammassako kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇo, yaṁ kammaṁ karissāmi—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādo bhavissāmi;
atha kho yāvatā sattānaṁ āgati gati cuti upapatti sabbe sattā kammassakā kammadāyādā kammayoni kammabandhu kammapaṭisaraṇā, yaṁ kammaṁ karissanti—kalyāṇaṁ vā pāpakaṁ vā—tassa dāyādā bhavissantī’ti.
Tassa taṁ ṭhānaṁ abhiṇhaṁ paccavekkhato maggo sañjāyati.
So taṁ maggaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti.
Tassa taṁ maggaṁ āsevato bhāvayato bahulīkaroto saṁyojanāni sabbaso pahīyanti, anusayā byantīhontīti.
Byādhidhammā jarādhammā,
atho maraṇadhammino;
Yathā dhammā tathā sattā,
jigucchanti puthujjanā.
Ahañce taṁ jiguccheyyaṁ,
evaṁ dhammesu pāṇisu;
Na metaṁ patirūpassa,
mama evaṁ vihārino.
Sohaṁ evaṁ viharanto,
ñatvā dhammaṁ nirūpadhiṁ;
Ārogye yobbanasmiñca,
jīvitasmiñca ye madā.
Sabbe made abhibhosmi,
Nekkhammaṁ daṭṭhu khemato;
Tassa me ahu ussāho,
Nibbānaṁ abhipassato.
Nāhaṁ bhabbo etarahi,
Kāmāni paṭisevituṁ;
Anivatti bhavissāmi,
Brahmacariyaparāyaṇo”ti.
Sattamaṁ.