TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi xuống một bên:
—Này Ananda, sự tranh chấp ấy đã được chấm dứt chưa?
—Từ đâu, bạch Thế Tôn, sự tranh chấp ấy sẽ chấm dứt được? Bàhiya, vị đồng trú với Tôn giả Anuruddha hoàn toàn đứng về phía hòa hợp tăng. Do vậy, Tôn giả Anuruddha nghĩ rằng không nên nói một lời nào.
—Này Ananda, có khi nào Anuruddha lại can thiệp vào những vấn đề tranh chấp giữa chúng Tăng? Phải chăng, này Ananda, khi nào có vấn đề tranh chấp gì khởi lên, chính hai Thầy Sàriputta và Moggallàna làm chấm dứt tất cả tranh chấp ấy?
TTC 2Này Ananda, do thấy bốn lợi ích này, kẻ ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng. Thế nào là bốn?
Ở đây, này Ananda, kẻ ác Tỷ-kheo, do theo ác giới, theo ác pháp không trong sạch, sở hành đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, không phải Sa-môn nhưng tự xưng là Sa-môn, không hành Phạm hạnh nhưng tự xưng là hành Phạm hạnh, nội tâm mục nát, đầy ứ dục vọng, một đống rác dơ bẩn. Vị ấy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết Ta là ác giới, theo ác pháp, không thanh tịnh … một đống rác dơ bẩn; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ nhất này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
TTC 3Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo có tà kiến, thành tựu với chấp thủ biên kiến, vị ấy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết Ta là có ác tri kiến, chấp thủ tri kiến; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ hai này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
TTC 4Lại nữa, này Ananda, ác Tỷ-kheo có tà mạng, nuôi sống mình với tà mạng. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết Ta có tà mạng, nuôi sống mình với tà mạng; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ ba này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
TTC 5Lại nữa, này Ananda, ác Tỷ-kheo tham muốn lợi dưỡng, tham muốn cung kính, tham muốn không bị khinh miệt; Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết Ta là tham muốn lợi dưỡng, tham muốn cung kính, tham muốn không bị khinh miệt; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ tư này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
Do thấy bốn lợi ích này, này Ananda, kẻ ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“api nu taṁ, ānanda, adhikaraṇaṁ vūpasantan”ti?
“Kuto taṁ, bhante, adhikaraṇaṁ vūpasamissati.
Āyasmato, bhante, anuruddhassa bāhiyo nāma saddhivihāriko kevalakappaṁ saṅghabhedāya ṭhito.
Tatrāyasmā anuruddho na ekavācikampi bhaṇitabbaṁ maññatī”ti.
“Kadā panānanda, anuruddho saṅghamajjhe adhikaraṇesu voyuñjati.
Nanu, ānanda, yāni kānici adhikaraṇāni uppajjanti, sabbāni tāni tumhe ceva vūpasametha sāriputtamoggallānā ca.
Cattārome, ānanda, atthavase sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Katame cattāro?
Idhānanda, pāpabhikkhu dussīlo hoti pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace kho maṁ bhikkhū jānissanti—
dussīlo pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujātoti, samaggā maṁ santā nāsessanti;
vaggā pana maṁ na nāsessantī’ti.
Idaṁ, ānanda, paṭhamaṁ atthavasaṁ sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Puna caparaṁ, ānanda, pāpabhikkhu micchādiṭṭhiko hoti, antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgato.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace kho maṁ bhikkhū jānissanti—
micchādiṭṭhiko antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgatoti, samaggā maṁ santā nāsessanti;
vaggā pana maṁ na nāsessantī’ti.
Idaṁ, ānanda, dutiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Puna caparaṁ, ānanda, pāpabhikkhu micchāājīvo hoti, micchāājīvena jīvikaṁ kappeti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace kho maṁ bhikkhū jānissanti—
micchāājīvo micchāājīvena jīvikaṁ kappetīti, samaggā maṁ santā nāsessanti;
vaggā pana maṁ na nāsessantī’ti.
Idaṁ, ānanda, tatiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Puna caparaṁ, ānanda, pāpabhikkhu lābhakāmo hoti sakkārakāmo anavaññattikāmo.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace kho maṁ bhikkhū jānissanti—
lābhakāmo sakkārakāmo anavaññattikāmoti, samaggā maṁ santā na sakkarissanti na garuṁ karissanti na mānessanti na pūjessanti;
vaggā pana maṁ sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessantī’ti.
Idaṁ, ānanda, catutthaṁ atthavasaṁ sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Ime kho, ānanda, cattāro atthavase sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandatī”ti.
Paṭhamaṁ.
At one time the Buddha was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him,
“Well, Ānanda, has that disciplinary issue been settled yet?”
“How could it be, sir?
Venerable Anuruddha’s protégé Bāhiya remains entirely committed to creating a schism in the Saṅgha.
But Anuruddha doesn’t think to say a single word about it.”
“But Ānanda, since when has Anuruddha been involved in disciplinary issues in the midst of the Saṅgha?
Shouldn’t you, together with Sāriputta and Moggallāna, settle all disciplinary issues that come up?
A bad monk sees four reasons to relish schism in the Saṅgha.
What four?
Take an unethical monk, of bad qualities, filthy, with suspicious behavior, underhand, no true ascetic or spiritual practitioner—though claiming to be one—rotten inside, festering, and depraved.
He thinks:
‘Suppose the monks know that I’m a bad monk …
If they’re in harmony, they’ll expel me,
but if they’re divided they won’t.’
A bad monk sees this as the first reason to relish schism in the Saṅgha.
Furthermore, a bad monk has wrong view, he’s attached to an extremist view.
He thinks:
‘Suppose the monks know that I have wrong view …
If they’re in harmony they’ll expel me,
but if they’re divided they won’t.’
A bad monk sees this as the second reason to relish schism in the Saṅgha.
Furthermore, a bad monk has wrong livelihood and earns a living by wrong livelihood.
He thinks:
‘Suppose the monks know that I have wrong livelihood …
If they’re in harmony they’ll expel me,
but if they’re divided they won’t.’
A bad monk sees this as the third reason to relish schism in the Saṅgha.
Furthermore, a bad monk desires material things, honor, and admiration.
He thinks:
‘Suppose the monks know that I desire material things, honor, and admiration.
If they’re in harmony they won’t honor, respect, revere, or venerate me,
but if they’re divided they will.’
A bad monk sees this as the fourth reason to relish schism in the Saṅgha.
A bad monk sees these four reasons to relish schism in the Saṅgha.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi xuống một bên:
—Này Ananda, sự tranh chấp ấy đã được chấm dứt chưa?
—Từ đâu, bạch Thế Tôn, sự tranh chấp ấy sẽ chấm dứt được? Bàhiya, vị đồng trú với Tôn giả Anuruddha hoàn toàn đứng về phía hòa hợp tăng. Do vậy, Tôn giả Anuruddha nghĩ rằng không nên nói một lời nào.
—Này Ananda, có khi nào Anuruddha lại can thiệp vào những vấn đề tranh chấp giữa chúng Tăng? Phải chăng, này Ananda, khi nào có vấn đề tranh chấp gì khởi lên, chính hai Thầy Sàriputta và Moggallàna làm chấm dứt tất cả tranh chấp ấy?
TTC 2Này Ananda, do thấy bốn lợi ích này, kẻ ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng. Thế nào là bốn?
Ở đây, này Ananda, kẻ ác Tỷ-kheo, do theo ác giới, theo ác pháp không trong sạch, sở hành đáng nghi ngờ, có hành động che giấu, không phải Sa-môn nhưng tự xưng là Sa-môn, không hành Phạm hạnh nhưng tự xưng là hành Phạm hạnh, nội tâm mục nát, đầy ứ dục vọng, một đống rác dơ bẩn. Vị ấy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết Ta là ác giới, theo ác pháp, không thanh tịnh … một đống rác dơ bẩn; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ nhất này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
TTC 3Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo có tà kiến, thành tựu với chấp thủ biên kiến, vị ấy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết Ta là có ác tri kiến, chấp thủ tri kiến; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ hai này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
TTC 4Lại nữa, này Ananda, ác Tỷ-kheo có tà mạng, nuôi sống mình với tà mạng. Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết Ta có tà mạng, nuôi sống mình với tà mạng; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ ba này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
TTC 5Lại nữa, này Ananda, ác Tỷ-kheo tham muốn lợi dưỡng, tham muốn cung kính, tham muốn không bị khinh miệt; Vị ấy suy nghĩ như sau: “Nếu các Tỷ-kheo sẽ biết Ta là tham muốn lợi dưỡng, tham muốn cung kính, tham muốn không bị khinh miệt; nếu họ hòa hợp, họ sẽ làm hại ta; nếu họ chia rẽ, họ sẽ không làm hại được ta”. Này Ananda, do thấy lợi ích thứ tư này, ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
Do thấy bốn lợi ích này, này Ananda, kẻ ác Tỷ-kheo thích thú với phá hòa hợp Tăng.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“api nu taṁ, ānanda, adhikaraṇaṁ vūpasantan”ti?
“Kuto taṁ, bhante, adhikaraṇaṁ vūpasamissati.
Āyasmato, bhante, anuruddhassa bāhiyo nāma saddhivihāriko kevalakappaṁ saṅghabhedāya ṭhito.
Tatrāyasmā anuruddho na ekavācikampi bhaṇitabbaṁ maññatī”ti.
“Kadā panānanda, anuruddho saṅghamajjhe adhikaraṇesu voyuñjati.
Nanu, ānanda, yāni kānici adhikaraṇāni uppajjanti, sabbāni tāni tumhe ceva vūpasametha sāriputtamoggallānā ca.
Cattārome, ānanda, atthavase sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Katame cattāro?
Idhānanda, pāpabhikkhu dussīlo hoti pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujāto.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace kho maṁ bhikkhū jānissanti—
dussīlo pāpadhammo asuci saṅkassarasamācāro paṭicchannakammanto assamaṇo samaṇapaṭiñño abrahmacārī brahmacāripaṭiñño antopūti avassuto kasambujātoti, samaggā maṁ santā nāsessanti;
vaggā pana maṁ na nāsessantī’ti.
Idaṁ, ānanda, paṭhamaṁ atthavasaṁ sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Puna caparaṁ, ānanda, pāpabhikkhu micchādiṭṭhiko hoti, antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgato.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace kho maṁ bhikkhū jānissanti—
micchādiṭṭhiko antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgatoti, samaggā maṁ santā nāsessanti;
vaggā pana maṁ na nāsessantī’ti.
Idaṁ, ānanda, dutiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Puna caparaṁ, ānanda, pāpabhikkhu micchāājīvo hoti, micchāājīvena jīvikaṁ kappeti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace kho maṁ bhikkhū jānissanti—
micchāājīvo micchāājīvena jīvikaṁ kappetīti, samaggā maṁ santā nāsessanti;
vaggā pana maṁ na nāsessantī’ti.
Idaṁ, ānanda, tatiyaṁ atthavasaṁ sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Puna caparaṁ, ānanda, pāpabhikkhu lābhakāmo hoti sakkārakāmo anavaññattikāmo.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace kho maṁ bhikkhū jānissanti—
lābhakāmo sakkārakāmo anavaññattikāmoti, samaggā maṁ santā na sakkarissanti na garuṁ karissanti na mānessanti na pūjessanti;
vaggā pana maṁ sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessantī’ti.
Idaṁ, ānanda, catutthaṁ atthavasaṁ sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandati.
Ime kho, ānanda, cattāro atthavase sampassamāno pāpabhikkhu saṅghabhedena nandatī”ti.
Paṭhamaṁ.