TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvavatthì để khất thực. Khất thực ở Sàvavatthì xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Ngài gọi Tôn giả Ananda:
—Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Ðông Viên, giảng đường Mẹ của Migàra để nghỉ trưa.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Ðông Viên, chỗ giảng đường Mẹ của Migàra. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng dậy, gọi Tôn giả Ananda:
—Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pubbakotthaka để rửa tay rửa chân.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Pubbkotthaka để rửa tay rửa chân. Sau khi rửa tay rửa chân ở Pubbakotthaka xong, Thế Tôn lên đứng trên bờ, đắp một tấm y, phơi tay chân cho khô.
TTC 2Lúc bấy giờ, Seta, con voi của vua Pasenadi nước Kosala, từ Pubbokatthaka đi ra, với nhiều tiếng các loại trống và nhạc lớn tiếng, dân chúng thấy vậy liền nói: “Ôi đẹp đẽ thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Ðáng nhìn thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Thoải mái thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Thân thể đầy đủ thay, thưa các Ngài, là con voi của vua! Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi!” Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, quần chúng, do thấy con voi to lớn, đồ sộ, thân thể đẫy đà nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi! “. Hay là thấy một cái gì khác to lớn, đồ sộ, thân thể đẫy đà nên họ nói như vậy: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi!”
—Này Udàyi, quần chúng do thấy con voi to lớn, đồ sộ, thân thể đẫy đà nên nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài thật xứng đáng là con voi! “
Này Udàyi, thấy con ngựa… Này Udàyi, thấy con bò… Này Udàyi, thấy con rắn… Này Udàyi, thấy cây… này Udàyi thấy con người to lớn, đồ sộ, với thân thể đẫy đà nên nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi! “Nhưng Ta tuyên bố rằng, này Udàyi, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, ai không phạm một tội về thân, về lời, về ý nghĩ, người ấy Ta nói rằng: “Người ấy là con voi”.
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn. Thế Tôn đã khéo nói như sau: “Này Udàyi, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, ai không phạm một tội về thân, về lời, về ý, người ấy Ta nói rằng: “Người ấy là con voi”.
Bạch Thế Tôn, lời nói tốt đẹp này của Thế Tôn, con xin tùy hỷ với những câu kệ như sau:
Là con người tự giác,
Tự nhiếp phục, được định,
Ðang đi đường Phạm thiên,
Tâm tịnh tín, hoan hỷ,
Cùng tận tất cả Pháp,
Vị ấy, loài người kính,
Vị ấy, chư thiên trọng.
Vị ấy, con được nghe,
Là bậc A-la-hán.
Mọi kiết sử vượt qua,
Thoát rừng, đến Niết-bàn,
Hoan hỷ sống an ổn,
Rời khỏi các dục vọng,
Như vàng thoát đá sỏi.
Voi ấy rực chói sáng,
Chiếu sáng khắp tất cả,
Như ngọn núi Tuyết sơn,
Cao hơn mọi núi đá.
Vị đạt chân, vô thượng,
Vượt tất cả loài voi,
Ta sẽ khen vị voi,
Không làm các tội phạm,
Nhu hòa và thất bại,
Là hai bàn chân trước,
Khổ hạnh và Phạm hạnh,
Là hai bàn chân sau.
Lòng tin là vòi voi,
Trú xả đôi ngà trắng,
Niệm là cổ của voi.
Nếu có suy tư gì
Là suy tư Chánh pháp
Bụng là chỗ chứa pháp,
Ðuôi là sống viễn ly,
Vị ấy tu Thiền định,
Hoan hỷ trong hơi thở,
Với nội tâm định tĩnh,
Khéo định tâm Thiền định.
Voi đi là hành Thiền,
Voi đứng là hành Thiền,
Voi nằm là hành Thiền,
Voi ngồi là hành Thiền
Voi hộ trì tất cả,
Ðây viên mãn của voi.
Voi ăn, không phạm lỗi,
Có phạm lỗi không ăn.
Nhận được cơm và áo,
Quyết từ bỏ chất chứa,
Các kiết sử lớn nhỏ,
Cắt đứt mọi trói buộc.
Chỗ nào vị ấy đi,
Vị ấy đi không cầu
Giống như bông hoa sen,
Sanh và lớn trong nước,
Không bị nước uế nhiễm,
Hương thơm đẹp ý người.
Cũng vậy là đức Phật,
Khéo sanh, vượt khỏi đời,
Không bị đời uế nhiễm,
Như sen không dính nước,
Như lửa lớn cháy đỏ,
Không nhiên liệu, tự tắt,
Ai lắng dịu các hành,
Ðược gọi bậc Tịch tịnh.
Ví dụ này nhiều nghĩa,
Do bậc trí thuyết giảng
Bậc voi lớn được biết
Lấy voi dạy cho voi.
Bậc ly tham, ly sân,
Ly si, không lậu hoặc,
Voi này từ bỏ thân,
Nhập diệt, không lậu hoặc.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiyaṁ piṇḍāya pāvisi.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkamissāma divāvihārāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkami.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena pubbakoṭṭhako tenupasaṅkamissāma gattāni parisiñcitun”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena pubbakoṭṭhako tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ.
Pubbakoṭṭhake gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.
Tena kho pana samayena rañño pasenadissa kosalassa seto nāma nāgo mahātūriyatāḷitavāditena pubbakoṭṭhakā paccuttarati.
Apissu taṁ jano disvā evamāha:
“abhirūpo vata bho rañño nāgo; dassanīyo vata bho rañño nāgo; pāsādiko vata, bho, rañño nāgo, kāyupapanno vata bho rañño nāgo”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī bhagavantaṁ etadavoca:
“hatthimeva nu kho, bhante, mahantaṁ brahantaṁ kāyupapannaṁ jano disvā evamāha:
‘nāgo vata bho nāgo’ti, udāhu aññampi kañci mahantaṁ brahantaṁ kāyupapannaṁ jano disvā evamāha: ‘nāgo vata bho nāgo’”ti?
“Hatthimpi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ kāyupapannaṁ jano disvā evamāha:
‘nāgo vata bho nāgo’ti.
Assampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ …pe…
goṇampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ …pe…
uragampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ …pe…
rukkhampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ …pe…
manussampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ kāyupapannaṁ jano disvā evamāha:
‘nāgo vata, bho, nāgo’ti.
Api ca, udāyi, yo sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya āguṁ na karoti kāyena vācāya manasā, tamahaṁ ‘nāgo’ti brūmī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāva subhāsitañcidaṁ, bhante, bhagavatā—
api ca, udāyi, yo sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya āguṁ na karoti kāyena vācāya manasā, tamahaṁ ‘nāgo’ti brūmīti.
Idañca panāhaṁ, bhante, bhagavatā subhāsitaṁ imāhi gāthāhi anumodāmi—
Manussabhūtaṁ sambuddhaṁ,
attadantaṁ samāhitaṁ;
Iriyamānaṁ brahmapathe,
cittassūpasame rataṁ.
Yaṁ manussā namassanti,
sabbadhammāna pāraguṁ;
Devāpi taṁ namassanti,
iti me arahato sutaṁ.
Sabbasaṁyojanātītaṁ,
vanā nibbanamāgataṁ;
Kāmehi nekkhammarataṁ,
muttaṁ selāva kañcanaṁ.
Sabbe accarucī nāgo,
himavāññe siluccaye;
Sabbesaṁ nāganāmānaṁ,
saccanāmo anuttaro.
Nāgaṁ vo kittayissāmi,
na hi āguṁ karoti so;
Soraccaṁ avihiṁsā ca,
pādā nāgassa te duve.
Tapo ca brahmacariyaṁ,
caraṇā nāgassa tyāpare;
Saddhāhattho mahānāgo,
upekkhāsetadantavā.
Sati gīvā siro paññā,
vīmaṁsā dhammacintanā;
Dhammakucchisamātapo,
viveko tassa vāladhi.
So jhāyī assāsarato,
ajjhattaṁ susamāhito;
Gacchaṁ samāhito nāgo,
ṭhito nāgo samāhito.
Seyyaṁ samāhito nāgo,
nisinnopi samāhito;
Sabbattha saṁvuto nāgo,
esā nāgassa sampadā.
Bhuñjati anavajjāni,
sāvajjāni na bhuñjati;
Ghāsamacchādanaṁ laddhā,
sannidhiṁ parivajjayaṁ.
Saṁyojanaṁ aṇuṁ thūlaṁ,
sabbaṁ chetvāna bandhanaṁ;
Yena yeneva gacchati,
anapekkhova gacchati.
Yathāpi udake jātaṁ,
puṇḍarīkaṁ pavaḍḍhati;
Nupalippati toyena,
sucigandhaṁ manoramaṁ.
Tatheva loke sujāto,
buddho loke viharati;
Nupalippati lokena,
toyena padumaṁ yathā.
Mahāginīva jalito,
anāhārūpasammati;
Saṅkhāresūpasantesu,
nibbutoti pavuccati.
Atthassāyaṁ viññāpanī,
upamā viññūhi desitā;
Viññassanti mahānāgā,
nāgaṁ nāgena desitaṁ.
Vītarāgo vītadoso,
Vītamoho anāsavo;
Sarīraṁ vijahaṁ nāgo,
Parinibbissati anāsavo”ti.
Paṭhamaṁ.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms.
Then, after the meal, on his return from almsround, he addressed Venerable Ānanda,
“Come, Ānanda, let’s go to the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery for the day’s meditation.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
So the Buddha went with Ānanda to the Eastern Monastery.
In the late afternoon the Buddha came out of retreat and addressed Ānanda,
“Come, Ānanda, let’s go to the eastern gate to bathe.”
“Yes, sir,” Ānanda replied.
So the Buddha went with Ānanda to the eastern gate to bathe.
When he had bathed and emerged from the water he stood in one robe drying his limbs.
Now, at that time King Pasenadi had a giant bull elephant called “White”. It emerged from the eastern gate to the beating and playing of musical instruments.
When people saw it they said,
“The royal giant is so handsome! The royal giant is so good-looking! The royal giant is so lovely! The royal giant has such a huge body!”
When they said this, Venerable Udāyī said to the Buddha,
“Sir, is it only when they see elephants with such a huge, formidable body that people say:
‘A giant, such a giant’? Or do they say it when they see any other creatures with huge, formidable bodies?”
“Udāyī, when they see elephants with such a huge, formidable body people say:
‘A giant, such a giant!’
And also when they see a horse with a huge, formidable body …
When they see a bull with a huge, formidable body …
When they see a serpent with a huge, formidable body …
When they see a tree with a huge, formidable body …
And when they see a human being with such a huge, formidable body people say:
‘A giant, such a giant!’
But Udāyī, one who does nothing monstrous by way of body, speech, and mind is who I call a ‘giant’ in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.”
“It’s incredible, sir, it’s amazing!
How well said this was by the Buddha:
‘But Udāyī, one who does nothing monstrous by way of body, speech, and mind is who I call a “giant” in this world with its gods, Māras, and Divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans.’
And I celebrate the well-spoken words of the Buddha with these verses:
Awakened as a human being,
self-tamed and immersed in samādhi,
following the spiritual path,
he loves peace of mind.
Revered by people,
gone beyond all things,
even the gods revere him;
so I’ve heard from the perfected one.
He has transcended all fetters
and escaped from entanglements.
Delighting to renounce sensual pleasures,
he’s freed like lustrous gold from stone.
That giant outshines all,
like the Himalaya beside other mountains.
Of all those named ‘giant’,
he is truly named, supreme.
I shall extol the giant for you,
for he does nothing monstrous.
Gentleness and harmlessness
are two feet of the giant.
Fervor and chastity
are his two other feet.
Faith is the giant’s trunk,
and equanimity his white tusks.
Mindfulness is his neck, his head is wisdom—
inquiry and thinking about principles.
His belly is the sacred hearth of the Dhamma,
and his tail is seclusion.
Practicing absorption, enjoying the breath,
he is serene within.
The giant is serene when walking,
the giant is serene when standing,
the giant is serene when lying down,
and when sitting, the giant is serene.
The giant is restrained everywhere:
this is the accomplishment of the giant.
He eats blameless things,
he doesn’t eat blameworthy things.
When he gets food and clothes,
he avoids storing them up.
Having severed all bonds,
fetters large and small,
wherever he goes,
he goes without concern.
A white lotus,
fragrant and delightful,
sprouts in water and grows there,
but water does not stick to it.
Just so the Buddha is born in the world,
and lives in the world,
but the world does not stick to him,
as water does not stick to the lotus.
A great blazing fire
dies down when the fuel runs out.
When the coals have gone out
it’s said to be ‘quenched’.
This simile is taught by the discerning
to express the meaning clearly.
Great giants will understand
what the giant taught the giant.
Free of greed, free of hate,
free of delusion, undefiled;
the giant, giving up his body,
being undefiled, will be fully quenched.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvavatthì để khất thực. Khất thực ở Sàvavatthì xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Ngài gọi Tôn giả Ananda:
—Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Ðông Viên, giảng đường Mẹ của Migàra để nghỉ trưa.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Ðông Viên, chỗ giảng đường Mẹ của Migàra. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng dậy, gọi Tôn giả Ananda:
—Này Ananda, chúng ta hãy đi đến Pubbakotthaka để rửa tay rửa chân.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với Tôn giả Ananda đi đến Pubbkotthaka để rửa tay rửa chân. Sau khi rửa tay rửa chân ở Pubbakotthaka xong, Thế Tôn lên đứng trên bờ, đắp một tấm y, phơi tay chân cho khô.
TTC 2Lúc bấy giờ, Seta, con voi của vua Pasenadi nước Kosala, từ Pubbokatthaka đi ra, với nhiều tiếng các loại trống và nhạc lớn tiếng, dân chúng thấy vậy liền nói: “Ôi đẹp đẽ thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Ðáng nhìn thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Thoải mái thay, thưa các Ngài, con voi của vua! Thân thể đầy đủ thay, thưa các Ngài, là con voi của vua! Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi!” Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, quần chúng, do thấy con voi to lớn, đồ sộ, thân thể đẫy đà nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi! “. Hay là thấy một cái gì khác to lớn, đồ sộ, thân thể đẫy đà nên họ nói như vậy: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi!”
—Này Udàyi, quần chúng do thấy con voi to lớn, đồ sộ, thân thể đẫy đà nên nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài thật xứng đáng là con voi! “
Này Udàyi, thấy con ngựa… Này Udàyi, thấy con bò… Này Udàyi, thấy con rắn… Này Udàyi, thấy cây… này Udàyi thấy con người to lớn, đồ sộ, với thân thể đẫy đà nên nói như sau: “Con voi, thưa các Ngài, thật xứng đáng là con voi! “Nhưng Ta tuyên bố rằng, này Udàyi, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, ai không phạm một tội về thân, về lời, về ý nghĩ, người ấy Ta nói rằng: “Người ấy là con voi”.
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn. Thế Tôn đã khéo nói như sau: “Này Udàyi, trong thế giới này với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, ai không phạm một tội về thân, về lời, về ý, người ấy Ta nói rằng: “Người ấy là con voi”.
Bạch Thế Tôn, lời nói tốt đẹp này của Thế Tôn, con xin tùy hỷ với những câu kệ như sau:
Là con người tự giác,
Tự nhiếp phục, được định,
Ðang đi đường Phạm thiên,
Tâm tịnh tín, hoan hỷ,
Cùng tận tất cả Pháp,
Vị ấy, loài người kính,
Vị ấy, chư thiên trọng.
Vị ấy, con được nghe,
Là bậc A-la-hán.
Mọi kiết sử vượt qua,
Thoát rừng, đến Niết-bàn,
Hoan hỷ sống an ổn,
Rời khỏi các dục vọng,
Như vàng thoát đá sỏi.
Voi ấy rực chói sáng,
Chiếu sáng khắp tất cả,
Như ngọn núi Tuyết sơn,
Cao hơn mọi núi đá.
Vị đạt chân, vô thượng,
Vượt tất cả loài voi,
Ta sẽ khen vị voi,
Không làm các tội phạm,
Nhu hòa và thất bại,
Là hai bàn chân trước,
Khổ hạnh và Phạm hạnh,
Là hai bàn chân sau.
Lòng tin là vòi voi,
Trú xả đôi ngà trắng,
Niệm là cổ của voi.
Nếu có suy tư gì
Là suy tư Chánh pháp
Bụng là chỗ chứa pháp,
Ðuôi là sống viễn ly,
Vị ấy tu Thiền định,
Hoan hỷ trong hơi thở,
Với nội tâm định tĩnh,
Khéo định tâm Thiền định.
Voi đi là hành Thiền,
Voi đứng là hành Thiền,
Voi nằm là hành Thiền,
Voi ngồi là hành Thiền
Voi hộ trì tất cả,
Ðây viên mãn của voi.
Voi ăn, không phạm lỗi,
Có phạm lỗi không ăn.
Nhận được cơm và áo,
Quyết từ bỏ chất chứa,
Các kiết sử lớn nhỏ,
Cắt đứt mọi trói buộc.
Chỗ nào vị ấy đi,
Vị ấy đi không cầu
Giống như bông hoa sen,
Sanh và lớn trong nước,
Không bị nước uế nhiễm,
Hương thơm đẹp ý người.
Cũng vậy là đức Phật,
Khéo sanh, vượt khỏi đời,
Không bị đời uế nhiễm,
Như sen không dính nước,
Như lửa lớn cháy đỏ,
Không nhiên liệu, tự tắt,
Ai lắng dịu các hành,
Ðược gọi bậc Tịch tịnh.
Ví dụ này nhiều nghĩa,
Do bậc trí thuyết giảng
Bậc voi lớn được biết
Lấy voi dạy cho voi.
Bậc ly tham, ly sân,
Ly si, không lậu hoặc,
Voi này từ bỏ thân,
Nhập diệt, không lậu hoặc.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiyaṁ piṇḍāya pāvisi.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkamissāma divāvihārāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena pubbārāmo migāramātupāsādo tenupasaṅkami.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena pubbakoṭṭhako tenupasaṅkamissāma gattāni parisiñcitun”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena pubbakoṭṭhako tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṁ.
Pubbakoṭṭhake gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni pubbāpayamāno.
Tena kho pana samayena rañño pasenadissa kosalassa seto nāma nāgo mahātūriyatāḷitavāditena pubbakoṭṭhakā paccuttarati.
Apissu taṁ jano disvā evamāha:
“abhirūpo vata bho rañño nāgo; dassanīyo vata bho rañño nāgo; pāsādiko vata, bho, rañño nāgo, kāyupapanno vata bho rañño nāgo”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī bhagavantaṁ etadavoca:
“hatthimeva nu kho, bhante, mahantaṁ brahantaṁ kāyupapannaṁ jano disvā evamāha:
‘nāgo vata bho nāgo’ti, udāhu aññampi kañci mahantaṁ brahantaṁ kāyupapannaṁ jano disvā evamāha: ‘nāgo vata bho nāgo’”ti?
“Hatthimpi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ kāyupapannaṁ jano disvā evamāha:
‘nāgo vata bho nāgo’ti.
Assampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ …pe…
goṇampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ …pe…
uragampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ …pe…
rukkhampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ …pe…
manussampi kho, udāyi, mahantaṁ brahantaṁ kāyupapannaṁ jano disvā evamāha:
‘nāgo vata, bho, nāgo’ti.
Api ca, udāyi, yo sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya āguṁ na karoti kāyena vācāya manasā, tamahaṁ ‘nāgo’ti brūmī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Yāva subhāsitañcidaṁ, bhante, bhagavatā—
api ca, udāyi, yo sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya āguṁ na karoti kāyena vācāya manasā, tamahaṁ ‘nāgo’ti brūmīti.
Idañca panāhaṁ, bhante, bhagavatā subhāsitaṁ imāhi gāthāhi anumodāmi—
Manussabhūtaṁ sambuddhaṁ,
attadantaṁ samāhitaṁ;
Iriyamānaṁ brahmapathe,
cittassūpasame rataṁ.
Yaṁ manussā namassanti,
sabbadhammāna pāraguṁ;
Devāpi taṁ namassanti,
iti me arahato sutaṁ.
Sabbasaṁyojanātītaṁ,
vanā nibbanamāgataṁ;
Kāmehi nekkhammarataṁ,
muttaṁ selāva kañcanaṁ.
Sabbe accarucī nāgo,
himavāññe siluccaye;
Sabbesaṁ nāganāmānaṁ,
saccanāmo anuttaro.
Nāgaṁ vo kittayissāmi,
na hi āguṁ karoti so;
Soraccaṁ avihiṁsā ca,
pādā nāgassa te duve.
Tapo ca brahmacariyaṁ,
caraṇā nāgassa tyāpare;
Saddhāhattho mahānāgo,
upekkhāsetadantavā.
Sati gīvā siro paññā,
vīmaṁsā dhammacintanā;
Dhammakucchisamātapo,
viveko tassa vāladhi.
So jhāyī assāsarato,
ajjhattaṁ susamāhito;
Gacchaṁ samāhito nāgo,
ṭhito nāgo samāhito.
Seyyaṁ samāhito nāgo,
nisinnopi samāhito;
Sabbattha saṁvuto nāgo,
esā nāgassa sampadā.
Bhuñjati anavajjāni,
sāvajjāni na bhuñjati;
Ghāsamacchādanaṁ laddhā,
sannidhiṁ parivajjayaṁ.
Saṁyojanaṁ aṇuṁ thūlaṁ,
sabbaṁ chetvāna bandhanaṁ;
Yena yeneva gacchati,
anapekkhova gacchati.
Yathāpi udake jātaṁ,
puṇḍarīkaṁ pavaḍḍhati;
Nupalippati toyena,
sucigandhaṁ manoramaṁ.
Tatheva loke sujāto,
buddho loke viharati;
Nupalippati lokena,
toyena padumaṁ yathā.
Mahāginīva jalito,
anāhārūpasammati;
Saṅkhāresūpasantesu,
nibbutoti pavuccati.
Atthassāyaṁ viññāpanī,
upamā viññūhi desitā;
Viññassanti mahānāgā,
nāgaṁ nāgena desitaṁ.
Vītarāgo vītadoso,
Vītamoho anāsavo;
Sarīraṁ vijahaṁ nāgo,
Parinibbissati anāsavo”ti.
Paṭhamaṁ.