TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong nghĩa địa. Thế nào là năm?
TTC 2Bất tịnh, hôi thúi, đáng sợ hãi, trú xứ các phi nhân hung bạo, làm cho quần chúng than khóc.
Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong nghĩa địa.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong người được ví như nghĩa địa. Thế nào là năm?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh. Ta nói rằng đây là sự bất tịnh của người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, sự bất tịnh ấy của nghĩa địa. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
TTC 5Ai thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh, tiếng ác được đồn khắp. Ta nói rằng đây là mùi hôi thúi của người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, mùi hôi thúi ấy của nghĩa địa. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
TTC 6Với vị thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh, các vị thuần tịnh đồng Phạm hạnh tránh né đứng xa. Ta nói rằng đây là sự đáng sợ hãi của người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, sự đáng sợ hãi của nghĩa địa. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
TTC 7Ai thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh, sống chung với những hạng người cũng đồng chung với nếp sống ấy. Ta nói rằng đây là trú xứ hung bạo của người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, trú xứ các phi nhân hung bạo của nghĩa địa, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
TTC 8Với vị thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh này, các vị thuần tịnh đồng Phạm hạnh thấy vậy trở thành bất mãn và nói: “Ôi thật là khổ cho chúng tôi, chúng tôi phải chung sống với những người như vậy”. Ta nói rằng đây là làm cho quần chúng than khóc của người ấy. Ví như này các Tỷ-kheo, nghĩa địa là chỗ làm cho nhiều người than khóc, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
Ðây là năm nguy hại, này các Tỷ-kheo, trong người được ví như nghĩa địa.
“Pañcime, bhikkhave, ādīnavā sivathikāya.
Katame pañca?
Asuci, duggandhā, sappaṭibhayā, vāḷānaṁ amanussānaṁ āvāso, bahuno janassa ārodanā—
ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā sivathikāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime ādīnavā sivathikūpame puggale.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo asucinā kāyakammena samannāgato hoti;
asucinā vacīkammena samannāgato hoti;
asucinā manokammena samannāgato hoti.
Idamassa asucitāya vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā asuci;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Tassa asucinā kāyakammena samannāgatassa, asucinā vacīkammena samannāgatassa, asucinā manokammena samannāgatassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati.
Idamassa duggandhatāya vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā duggandhā;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Tamenaṁ asucinā kāyakammena samannāgataṁ, asucinā vacīkammena samannāgataṁ, asucinā manokammena samannāgataṁ pesalā sabrahmacārī ārakā parivajjanti.
Idamassa sappaṭibhayasmiṁ vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā sappaṭibhayā;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
So asucinā kāyakammena samannāgato, asucinā vacīkammena samannāgato, asucinā manokammena samannāgato sabhāgehi puggalehi saddhiṁ saṁvasati.
Idamassa vāḷāvāsasmiṁ vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā vāḷānaṁ amanussānaṁ āvāso;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Tamenaṁ asucinā kāyakammena samannāgataṁ, asucinā vacīkammena samannāgataṁ, asucinā manokammena samannāgataṁ pesalā sabrahmacārī disvā khīyadhammaṁ āpajjanti:
‘aho vata no dukkhaṁ ye mayaṁ evarūpehi puggalehi saddhiṁ saṁvasāmā’ti.
Idamassa ārodanāya vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā bahuno janassa ārodanā;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā sivathikūpame puggale”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, there are these five drawbacks to a charnel ground.
What five?
It’s filthy, stinking, frightening, a gathering place for savage monsters, and a weeping place for many people.
These are the five drawbacks of a charnel ground.
In the same way there are five drawbacks of an individual like a charnel ground.
What five?
To start with, an individual has filthy conduct by way of body, speech, and mind.
This is how they’re filthy, I say.
That individual is just as filthy as a charnel ground.
Because of their filthy conduct, they get a bad reputation.
This is how they’re stinky, I say.
That individual is just as stinky as a charnel ground.
Because of their filthy conduct, good-hearted spiritual companions avoid them from afar.
That’s how they’re frightening, I say.
That individual is just as frightening as a charnel ground.
Because of their filthy conduct, they live together with individuals of a similar character.
This is how they gather with savage monsters, I say.
That individual is just as much a gathering place of savage monsters as a charnel ground.
Because of their filthy conduct, when good-hearted spiritual companions see them they complain:
‘Oh, it’s so painful for us to have to live together with such as these.’
This is how there’s weeping, I say.
This person is just as much a weeping place for many people as a charnel ground.
These are the five drawbacks of an individual like a charnel ground.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong nghĩa địa. Thế nào là năm?
TTC 2Bất tịnh, hôi thúi, đáng sợ hãi, trú xứ các phi nhân hung bạo, làm cho quần chúng than khóc.
Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong nghĩa địa.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong người được ví như nghĩa địa. Thế nào là năm?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh. Ta nói rằng đây là sự bất tịnh của người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, sự bất tịnh ấy của nghĩa địa. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
TTC 5Ai thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh, tiếng ác được đồn khắp. Ta nói rằng đây là mùi hôi thúi của người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, mùi hôi thúi ấy của nghĩa địa. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
TTC 6Với vị thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh, các vị thuần tịnh đồng Phạm hạnh tránh né đứng xa. Ta nói rằng đây là sự đáng sợ hãi của người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, sự đáng sợ hãi của nghĩa địa. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
TTC 7Ai thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh, sống chung với những hạng người cũng đồng chung với nếp sống ấy. Ta nói rằng đây là trú xứ hung bạo của người ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, trú xứ các phi nhân hung bạo của nghĩa địa, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
TTC 8Với vị thành tựu thân nghiệp bất tịnh, thành tựu khẩu nghiệp bất tịnh, thành tựu ý nghiệp bất tịnh này, các vị thuần tịnh đồng Phạm hạnh thấy vậy trở thành bất mãn và nói: “Ôi thật là khổ cho chúng tôi, chúng tôi phải chung sống với những người như vậy”. Ta nói rằng đây là làm cho quần chúng than khóc của người ấy. Ví như này các Tỷ-kheo, nghĩa địa là chỗ làm cho nhiều người than khóc, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
Ðây là năm nguy hại, này các Tỷ-kheo, trong người được ví như nghĩa địa.
“Pañcime, bhikkhave, ādīnavā sivathikāya.
Katame pañca?
Asuci, duggandhā, sappaṭibhayā, vāḷānaṁ amanussānaṁ āvāso, bahuno janassa ārodanā—
ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā sivathikāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime ādīnavā sivathikūpame puggale.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo asucinā kāyakammena samannāgato hoti;
asucinā vacīkammena samannāgato hoti;
asucinā manokammena samannāgato hoti.
Idamassa asucitāya vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā asuci;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Tassa asucinā kāyakammena samannāgatassa, asucinā vacīkammena samannāgatassa, asucinā manokammena samannāgatassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati.
Idamassa duggandhatāya vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā duggandhā;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Tamenaṁ asucinā kāyakammena samannāgataṁ, asucinā vacīkammena samannāgataṁ, asucinā manokammena samannāgataṁ pesalā sabrahmacārī ārakā parivajjanti.
Idamassa sappaṭibhayasmiṁ vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā sappaṭibhayā;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
So asucinā kāyakammena samannāgato, asucinā vacīkammena samannāgato, asucinā manokammena samannāgato sabhāgehi puggalehi saddhiṁ saṁvasati.
Idamassa vāḷāvāsasmiṁ vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā vāḷānaṁ amanussānaṁ āvāso;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Tamenaṁ asucinā kāyakammena samannāgataṁ, asucinā vacīkammena samannāgataṁ, asucinā manokammena samannāgataṁ pesalā sabrahmacārī disvā khīyadhammaṁ āpajjanti:
‘aho vata no dukkhaṁ ye mayaṁ evarūpehi puggalehi saddhiṁ saṁvasāmā’ti.
Idamassa ārodanāya vadāmi.
Seyyathāpi sā, bhikkhave, sivathikā bahuno janassa ārodanā;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā sivathikūpame puggale”ti.
Navamaṁ.