TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ngay trong hiện tại chứng được Hữu hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi thân hoại mạng chung, chứng được Hữu hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ngay trong hiện tại chứng được Vô hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người ngay trong hiện tại chứng được Hữu hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng nhàm chán đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng chết, khéo an trú nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi rất dồi dào, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra rất dồi dào, ngay trong hiện tại, chứng được Hữu hành Niết-bàn.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi thân hoại mạng chung, chứng được Hữu hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân … với tưởng chết, khéo an trú trên nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi mềm yếu, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra mềm yếu, khi thân hoại mạng chung, vị ấy chứng được Hữu hành Niết-bàn.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người ngay trong hiện tại chứng được Vô hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi dồi dào, tức là tín căn … tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng được Vô hành Niết-bàn.
Như vậy này các Tỷ kheo, Có hạng người ngay trong hiện tại chứng được vô hành Niết Bàn.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này khởi lên mềm yếu, tức là tín căn … tuệ căn. Do năm căn này mềm yếu, vị ấy khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo diṭṭheva dhamme sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo kāyassa bhedā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo diṭṭheva dhamme asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo kāyassa bhedā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo diṭṭheva dhamme sasaṅkhāraparinibbāyī hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu asubhānupassī kāye viharati, āhāre paṭikūlasaññī, sabbaloke anabhiratisaññī, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī.
Maraṇasaññā kho panassa ajjhattaṁ sūpaṭṭhitā hoti.
So imāni pañca sekhabalāni upanissāya viharati—
saddhābalaṁ, hiribalaṁ, ottappabalaṁ, vīriyabalaṁ, paññābalaṁ.
Tassimāni pañcindriyāni adhimattāni pātubhavanti—
saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ.
So imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ adhimattattā diṭṭheva dhamme sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo diṭṭheva dhamme sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo kāyassa bhedā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu asubhānupassī kāye viharati, āhāre paṭikūlasaññī, sabbaloke anabhiratisaññī, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī.
Maraṇasaññā kho panassa ajjhattaṁ sūpaṭṭhitā hoti.
So imāni pañca sekhabalāni upanissāya viharati—
saddhābalaṁ, hiribalaṁ, ottappabalaṁ, vīriyabalaṁ, paññābalaṁ.
Tassimāni pañcindriyāni mudūni pātubhavanti—
saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ.
So imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ muduttā kāyassa bhedā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo kāyassa bhedā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo diṭṭheva dhamme asaṅkhāraparinibbāyī hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imāni pañca sekhabalāni upanissāya viharati—
saddhābalaṁ …pe… paññābalaṁ.
Tassimāni pañcindriyāni adhimattāni pātubhavanti—
saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
So imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ adhimattattā diṭṭheva dhamme asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo diṭṭheva dhamme asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo kāyassa bhedā asaṅkhāraparinibbāyī hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imāni pañca sekhabalāni upanissāya viharati—
saddhābalaṁ, hiribalaṁ, ottappabalaṁ, vīriyabalaṁ, paññābalaṁ.
Tassimāni pañcindriyāni …pe… paññindriyaṁ.
So imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ muduttā kāyassa bhedā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo kāyassa bhedā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, these four individuals are found in the world.
What four?
One individual is fully extinguished in this very life by making extra effort.
One individual is fully extinguished when the body breaks up by making extra effort.
One individual is fully extinguished in this very life without making extra effort.
One individual is fully extinguished when the body breaks up without making extra effort.
And how is an individual fully extinguished in this very life by making extra effort?
It’s when a mendicant meditates observing the ugliness of the body, perceives the repulsiveness of food, perceives dissatisfaction with the whole world, observes the impermanence of all conditions,
and has well established the perception of their own death.
They rely on these five powers of a trainee:
faith, conscience, prudence, energy, and wisdom.
And these five faculties manifest in them strongly:
faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
Because of the strength of the five faculties, they are fully extinguished in this very life by making extra effort.
That’s how an individual is fully extinguished in this very life by making extra effort.
How is an individual fully extinguished when the body breaks up by making extra effort?
It’s when a mendicant meditates observing the ugliness of the body, perceives the repulsiveness of food, perceives dissatisfaction with the whole world, observes the impermanence of all conditions,
and has well established the perception of their own death.
They rely on these five powers of a trainee:
faith, conscience, prudence, energy, and wisdom.
But these five faculties manifest in them weakly:
faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
Because of the weakness of the five faculties, they are fully extinguished when the body breaks up by making extra effort.
That’s how an individual is fully extinguished when the body breaks up by making extra effort.
And how is an individual fully extinguished in this very life without making extra effort?
It’s when a mendicant … enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption …
They rely on these five powers of a trainee:
faith, conscience, prudence, energy, and wisdom.
And these five faculties manifest in them strongly:
faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
Because of the strength of the five faculties, they are fully extinguished in this very life without making extra effort.
That’s how an individual is fully extinguished in this very life without making extra effort.
And how is an individual fully extinguished when the body breaks up without making extra effort?
It’s when a mendicant … enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption …
They rely on these five powers of a trainee:
faith, conscience, prudence, energy, and wisdom.
But these five faculties manifest in them weakly: faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
Because of the weakness of the five faculties, they are fully extinguished when the body breaks up without making extra effort.
That’s how an individual is fully extinguished when the body breaks up without making extra effort.
These are the four individuals found in the world.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ngay trong hiện tại chứng được Hữu hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi thân hoại mạng chung, chứng được Hữu hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ngay trong hiện tại chứng được Vô hành Niết-bàn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người ngay trong hiện tại chứng được Hữu hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân, với tưởng nhàm chán đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng chết, khéo an trú nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi rất dồi dào, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra rất dồi dào, ngay trong hiện tại, chứng được Hữu hành Niết-bàn.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi thân hoại mạng chung, chứng được Hữu hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán bất tịnh trên thân … với tưởng chết, khéo an trú trên nội tâm. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi mềm yếu, tức là tín căn … tuệ căn. Vị ấy, do năm căn này hiện ra mềm yếu, khi thân hoại mạng chung, vị ấy chứng được Hữu hành Niết-bàn.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người ngay trong hiện tại chứng được Vô hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này hiện khởi dồi dào, tức là tín căn … tuệ căn. Do năm căn này dồi dào, vị ấy ngay trong hiện tại, chứng được Vô hành Niết-bàn.
Như vậy này các Tỷ kheo, Có hạng người ngay trong hiện tại chứng được vô hành Niết Bàn.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Vị ấy sống y cứ trên năm hữu học lực, tức là tín lực … tuệ lực. Với vị ấy, năm căn này khởi lên mềm yếu, tức là tín căn … tuệ căn. Do năm căn này mềm yếu, vị ấy khi thân hoại mạng chung, chứng được Vô hành Niết-bàn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo diṭṭheva dhamme sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo kāyassa bhedā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo diṭṭheva dhamme asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Idha pana, bhikkhave, ekacco puggalo kāyassa bhedā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo diṭṭheva dhamme sasaṅkhāraparinibbāyī hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu asubhānupassī kāye viharati, āhāre paṭikūlasaññī, sabbaloke anabhiratisaññī, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī.
Maraṇasaññā kho panassa ajjhattaṁ sūpaṭṭhitā hoti.
So imāni pañca sekhabalāni upanissāya viharati—
saddhābalaṁ, hiribalaṁ, ottappabalaṁ, vīriyabalaṁ, paññābalaṁ.
Tassimāni pañcindriyāni adhimattāni pātubhavanti—
saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ.
So imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ adhimattattā diṭṭheva dhamme sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo diṭṭheva dhamme sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo kāyassa bhedā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu asubhānupassī kāye viharati, āhāre paṭikūlasaññī, sabbaloke anabhiratisaññī, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī.
Maraṇasaññā kho panassa ajjhattaṁ sūpaṭṭhitā hoti.
So imāni pañca sekhabalāni upanissāya viharati—
saddhābalaṁ, hiribalaṁ, ottappabalaṁ, vīriyabalaṁ, paññābalaṁ.
Tassimāni pañcindriyāni mudūni pātubhavanti—
saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ.
So imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ muduttā kāyassa bhedā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo kāyassa bhedā sasaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo diṭṭheva dhamme asaṅkhāraparinibbāyī hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imāni pañca sekhabalāni upanissāya viharati—
saddhābalaṁ …pe… paññābalaṁ.
Tassimāni pañcindriyāni adhimattāni pātubhavanti—
saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
So imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ adhimattattā diṭṭheva dhamme asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo diṭṭheva dhamme asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo kāyassa bhedā asaṅkhāraparinibbāyī hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imāni pañca sekhabalāni upanissāya viharati—
saddhābalaṁ, hiribalaṁ, ottappabalaṁ, vīriyabalaṁ, paññābalaṁ.
Tassimāni pañcindriyāni …pe… paññindriyaṁ.
So imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ muduttā kāyassa bhedā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo kāyassa bhedā asaṅkhāraparinibbāyī hoti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Navamaṁ.