TTC 1—Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến Kesaputta, thị trấn của các người Kàlàmà.
Các người Kàlàmà ở Kesaputta được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca đã đến Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp như sau được truyền đi về Sa-môn Gotama: Ngài là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Sau khi tự thực chứng, Ngài đã giảng dạy chư thiên và loài người, hàng tu sĩ và cư sĩ, vua chúa cùng thường dân, Ngài đã giảng Pháp cao diệu từ chặng đầu, chặng giữa, cho đến chặng cuối; Ngài đã giảng đời sống phạm hạnh chi tiết và rõ ràng, toàn hảo, hoàn toàn tinh khiết. Lành thay, nếu chúng tôi được yết kiến một vị Ứng cúng như vậy”.
TTC 2—Rồi các người Kàlàmà ở Kesaputta đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, có người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế Tôn:
—Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Ðối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ phân vân: “Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?”
TTC 3—Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ! Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân.
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!
TTC 4Các Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà! Lòng tham khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
—Người này có tham, này các Kàlàmà, bị tham chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 5—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
—Người này có sân, này các Kàlàmà, bị sân chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn..
TTC 6—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
—Người này có si, này các Kàlàmà, bị si chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 7—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là bất thiện, bạch Thế Tôn.
—Đáng chê hay không đáng chê?
—Có tội, bạch Thế Tôn.
—Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?
—Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.
—Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không? Hay ở đây, là như thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến bất hạnh, đau khổ, ở đây, đối với chúng con là vậy.
TTC 8—Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.”.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí quở trách; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.
TTC 9Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; Các pháp này là không đáng chê; Các pháp này không bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Kàlàmà, hãy tự đạt đến và an trú!
TTC 10Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không tham, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy, là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
—Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
—Người này không tham, này các Kàlàmà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 11—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không sân, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
—Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
—Người này không sân, này các Kàlàmà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 12—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
—Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
—Người này không si, này các Kàlàmà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại hạnh phúc an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 13—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là thiện, bạch Thế Tôn.
—Các pháp này là đáng chê hay không đáng chê?
—Không đáng chê, bạch Thế Tôn.
—Bị người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?
—Ðược người trí tán thán, bạch Thế Tôn.
—Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến hạnh phúc an lạc không, hay ở đây, là như thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến hạnh phúc, an lạc. Ở đây, đối với chúng con là vậy.
TTC 14—Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; Các pháp này là không có tội; Các pháp này được người có trí tán thán; Các pháp này nếu được thực hiện, được chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Kàlàmà, hãy chứng đạt và an trú! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.
TTC 15—Này các Kàlàmà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Từ biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Từ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
Vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Bi biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Bi, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
Vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Hỷ biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Hỷ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
Vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Xả biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
TTC 16Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, không sân như vậy, không uế nhiễm như vậy, thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, người ấy đạt được bốn sự an ổn:
i) “Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh lên cõi thiện, cõi trời, cõi đời này”; đây là an ổn thứ nhất vị ấy có được.
ii) “Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, thời ở đây, trong hiện tại, ta tự sống với tâm không oán, không sân, không phiền não, được an lạc”; đây là an ổn thứ hai vị ấy có được.
iii) “Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được”; đây là an ổn thứ ba vị ấy có được.
iv) “Nếu việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh”; đây là an ổn thứ tư vị ấy có được.
Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ổn này.
TTC 17—Sự việc là như vậy, bạch Thế Tôn! Sự việc là như vậy, bạch Thiện Thệ! Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ổn:
“Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh lên cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này”; đây là an ổn thứ nhất vị ấy có được.
“Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, thời ở đây, trong hiện tại, ta tự sống với tâm không oán, không sân, không phiền não, được an lạc”; đây là an ổn thứ hai vị ấy có được.
“Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được”; đây là an ổn thứ ba vị ấy có được.
“Nếu việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh”; đây là an ổn thứ tư vị ấy có được.
Vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ổn này.
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Chúng con nay xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena kesamuttaṁ nāma kālāmānaṁ nigamo tadavasari.
Assosuṁ kho kesamuttiyā kālāmā:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kesamuttaṁ anuppatto.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā …pe…
sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī’”ti.
Atha kho kesamuttiyā kālāmā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te kesamuttiyā kālāmā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Santi, bhante, eke samaṇabrāhmaṇā kesamuttaṁ āgacchanti.
Te sakaṁyeva vādaṁ dīpenti jotenti, parappavādaṁ pana khuṁsenti vambhenti paribhavanti omakkhiṁ karonti.
Aparepi, bhante, eke samaṇabrāhmaṇā kesamuttaṁ āgacchanti.
Tepi sakaṁyeva vādaṁ dīpenti jotenti, parappavādaṁ pana khuṁsenti vambhenti paribhavanti omakkhiṁ karonti.
Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ hoteva kaṅkhā hoti vicikicchā:
‘ko su nāma imesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ āha, ko musā’”ti?
“Alañhi vo, kālāmā, kaṅkhituṁ alaṁ vicikicchituṁ.
Kaṅkhanīyeva pana vo ṭhāne vicikicchā uppannā.
Etha tumhe, kālāmā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, kālāmā, attanāva jāneyyātha:
‘ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, kālāmā, pajaheyyātha.
Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
lobho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Ahitāya, bhante”.
“Luddho panāyaṁ, kālāmā, purisapuggalo lobhena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
doso purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Ahitāya, bhante”.
“Duṭṭho panāyaṁ, kālāmā, purisapuggalo dosena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
moho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Ahitāya, bhante”.
“Mūḷho panāyaṁ, kālāmā, purisapuggalo mohena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Akusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Sāvajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññugarahitā, bhante”.
“Samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattanti, no vā?
Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti.
Evaṁ no ettha hotī”ti.
“Iti kho, kālāmā, yaṁ taṁ avocumhā:
‘etha tumhe, kālāmā.
Mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe kālāmā attanāva jāneyyātha:
“ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti, atha tumhe, kālāmā, pajaheyyāthā”’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Etha tumhe, kālāmā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, kālāmā, attanāva jāneyyātha:
‘ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, kālāmā, upasampajja vihareyyātha.
Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
alobho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Hitāya, bhante”.
“Aluddho panāyaṁ, kālāmā, purisapuggalo lobhena anabhibhūto apariyādinnacitto neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, na parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
adoso purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati …pe…
amoho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati …pe…
hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Kusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Anavajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññuppasatthā, bhante”.
“Samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti no vā?
Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti.
Evaṁ no ettha hotī”ti.
“Iti kho, kālāmā, yaṁ taṁ avocumhā:
‘etha tumhe, kālāmā.
Mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, kālāmā, attanāva jāneyyātha—
ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantīti, atha tumhe, kālāmā, upasampajja vihareyyāthā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Sa kho so, kālāmā, ariyasāvako evaṁ vigatābhijjho vigatabyāpādo asammūḷho sampajāno patissato mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ, iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjhena pharitvā viharati.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ, iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjhena pharitvā viharati.
Sa kho so, kālāmā, ariyasāvako evaṁ averacitto evaṁ abyāpajjhacitto evaṁ asaṅkiliṭṭhacitto evaṁ visuddhacitto.
Tassa diṭṭheva dhamme cattāro assāsā adhigatā honti.
‘Sace kho pana atthi paro loko, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, athāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmī’ti, ayamassa paṭhamo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana natthi paro loko, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, athāhaṁ diṭṭheva dhamme averaṁ abyāpajjhaṁ anīghaṁ sukhiṁ attānaṁ pariharāmī’ti, ayamassa dutiyo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana karoto karīyati pāpaṁ, na kho panāhaṁ kassaci pāpaṁ cetemi.
Akarontaṁ kho pana maṁ pāpakammaṁ kuto dukkhaṁ phusissatī’ti, ayamassa tatiyo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana karoto na karīyati pāpaṁ, athāhaṁ ubhayeneva visuddhaṁ attānaṁ samanupassāmī’ti, ayamassa catuttho assāso adhigato hoti.
Sa kho so, kālāmā, ariyasāvako evaṁ averacitto evaṁ abyāpajjhacitto evaṁ asaṅkiliṭṭhacitto evaṁ visuddhacitto.
Tassa diṭṭheva dhamme ime cattāro assāsā adhigatā hontī”ti.
“Evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Sa kho so, bhante, ariyasāvako evaṁ averacitto evaṁ abyāpajjhacitto evaṁ asaṅkiliṭṭhacitto evaṁ visuddhacitto.
Tassa diṭṭheva dhamme cattāro assāsā adhigatā honti.
‘Sace kho pana atthi paro loko, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, athāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmī’ti, ayamassa paṭhamo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana natthi paro loko, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, athāhaṁ diṭṭheva dhamme averaṁ abyāpajjhaṁ anīghaṁ sukhiṁ attānaṁ pariharāmī’ti, ayamassa dutiyo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana karoto karīyati pāpaṁ, na kho panāhaṁ kassaci pāpaṁ cetemi, akarontaṁ kho pana maṁ pāpakammaṁ kuto dukkhaṁ phusissatī’ti, ayamassa tatiyo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana karoto na karīyati pāpaṁ, athāhaṁ ubhayeneva visuddhaṁ attānaṁ samanupassāmī’ti, ayamassa catuttho assāso adhigato hoti.
Sa kho so, bhante, ariyasāvako evaṁ averacitto evaṁ abyāpajjhacitto evaṁ asaṅkiliṭṭhacitto evaṁ visuddhacitto.
Tassa diṭṭheva dhamme ime cattāro assāsā adhigatā honti.
Abhikkantaṁ, bhante …pe…
ete mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsake no, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1Thus have I heard. On one occasion, while the Blessed One was traveling among the Kosalans accompanied by a large community of monks, he approached a Kālāman town called Kesaputta. The Kālāmas of Kesaputta heard, “The contemplative Gotama, a Sakyan who went forth from the Sakya-clan, has arrived at Kesaputta. A good report of the honorable Gotama has been spread about in this way: ‘He is the Blessed One, an Arahant1, a rightly self-awakened one; he is perfect in knowledge and conduct, sublime, knower of the world, unsurpassed trainer of trainable people, teacher of celestial and human beings, enlightened and blessed.’ Having realized it for himself with his own higher knowledge, he explains this world with its angels, demons, and gods, this generation with its contemplatives, priests, celestial and human beings. He teaches a Dhamma that is wonderful in the beginning, wonderful in the middle, and wonderful in its conclusion, with the right meaning and phrasing. He demonstrates a spiritual life that is completely perfect and totally pure. It is good to see such worthy beings.”
SC 2After the Buddha had been teaching for a while, word began to spread about him and his teachings. Thus he would often arrive at a place he had never been to before to find that the people there already knew of him, and had heard that he was an enlightened being who was capable of teaching a profound path of spiritual self-development. This is one such case.
SC 3Then the Kālāmas of Kesaputta approached the Blessed One. After approaching, some paid respects to the Blessed One and sat to one side. Some conversed with the Blessed One, and after the appropriate polite talk was finished, they sat to one side. Some held their hands in añjali2 and sat to one side. Some announced their name and clan and sat to one side. Some remained silent and sat to one side.
SC 4This variety of different greetings indicates that many of the Kālāmas were still hesitant about the Buddha. While some displayed reverence, others merely shared some polite greetings, and some gave neither reverence nor polite words and just silently sat down. In the Suttas, disciples of the Buddha always begin by paying respects to the Buddha before sitting down; since only a handful of the Kālāmas did so, we can conclude that most of them were not followers of the Buddha‘s teachings.
SC 5When they were all seated to one side, the Kālāmas of Kesaputta said to the Blessed One, “Bhante, some contemplatives and priests come to Kesaputta. They explain and glorify their own doctrine, and revile, criticize, condemn, and denigrate the doctrines of others. Bhante, other contemplatives and priests also come to Kesaputta. They also explain and glorify their own doctrine, and revile, criticize, condemn, and denigrate the doctrines of others. Bhante, regarding this, we are full of uncertainty and doubt, thinking, ‘Among these honorable contemplatives and priests, who has spoken truthfully, and who has spoken falsely?’”
SC 6There are a lot of different philosophies, religions, and spiritual systems in the world, which teach a wide variety of ideas. These ideas are often contradictory. One who is seeking the truth thus finds oneself faced with a seemingly impossible choice: when so many contradictory statements are being made, what basis can we use for determining what is true and what is not?
SC 7The Buddha replied, “Kālāmas, it is reasonable for you to be uncertain; it is reasonable for you to doubt. Your circumstance is a basis for uncertainty and doubt.
SC 8“Kālāmas, do not go by hearsay. Do not go by tradition. Do not go by what seems appropriate. Do not go by scriptural authority. Do not go by thought. Do not go by inference. Do not go by logic. Do not go by personal preference. Do not go by a teacher‘s semblance of competence. Do not go by the thought ‘This contemplative is our teacher.’ Instead, Kālāmas, when you know for yourself, ‘These phenomena are unwholesome, blameworthy, condemned by the wise; when committed to, they lead to harm and suffering,’ then abandon them.
SC 9Here is the flagship statement of this discourse. This passage has become extremely popular in Western Buddhism, and thus is worth taking a closer look at.
SC 10The Buddha lists ten things that someone might use as a reason to believe something, and rejects them all as insufficient. They can be summarized in three categories:
SC 11Believing what you hear – hearsay, tradition, scripture
SC 12Believing what you think – thought, inference, logic, preference, what seems appropriate
SC 13Believing what a teacher says – apparent competence of a teacher, commitment to one‘s own teacher
SC 14You can hear things that are untrue; therefore it is unwise to believe something just because it was told to you, or you read it in a book, or because it‘s traditional.
SC 15You can think things that are untrue; therefore it is unwise to believe something just because you like it, or it seems appropriate to you, or you thought it up yourself, or you inferred it from other information, or you think it‘s logical.
SC 16A teacher can say things that are untrue; therefore it is unwise to believe something just because a teacher said it.
SC 17This doesn‘t mean you can‘t consider these factors; many of these are still useful starting points, and can support hypotheses or educated guesses; they can also indicate what we might want to investigate more closely. However, by themselves, they do not provide enough support for determining what is true. The only valid basis for belief is personal experience, which is indicated by the phrase “when you know for yourself.”
SC 18“What do you think, Kālāmas? When greed arises in a person, does that lead to benefit or harm?”
SC 19“Harm, Bhante.”
SC 20“Kālāmas, when a person is greedy and their mind is overcome by greed, might they kill, steal, commit adultery, tell lies, and encourage others to do the same – which would lead to their long-term harm and suffering?”
SC 21“Yes, Bhante.”
SC 22“What do you think, Kālāmas? When hatred arises in a person, does that lead to benefit or harm?”
SC 23“Harm, Bhante.”
SC 24“Kālāmas, when a person is filled with hate and their mind is overcome by hatred, might they kill, steal, commit adultery, tell lies, and encourage others to do the same – which would lead to their long-term harm and suffering?”
SC 25“Yes, Bhante.”
SC 26“What do you think, Kālāmas? When delusion arises in a person, does that lead to benefit or harm?”
SC 27“Harm, Bhante.”
SC 28“Kālāmas, when a person is deluded and their mind is overcome by delusion, might they kill, steal, commit adultery, tell lies, and encourage others to do the same – which would lead to their long-term harm and suffering?”
SC 29“Yes, Bhante.”
SC 30“What do you think, Kālāmas? Are these phenomena wholesome or unwholesome?”
SC 31“Unwholesome, Bhante.”
SC 32“Blameworthy or blameless?”
SC 33“Blameworthy, Bhante.”
SC 34“Condemned by the wise or praised by the wise?”
SC 35“Condemned by the wise, Bhante.”
SC 36“When committed to, do they lead to harm and suffering? What is it in this case?”
SC 37“Bhante, when committed to, they lead to harm and suffering. That is what we think in this case.”
SC 38“Kālāmas, that is why I said, ‘Do not go by hearsay… when you know for yourself, “These phenomena are unwholesome, blameworthy, condemned by the wise; when committed to, they lead to harm and suffering,” then abandon them.’ This is what was said, and it was said in reference to this.
SC 39This clarifies the Buddha‘s instructions to the Kālāmas. He asks them to examine three mindstates – greed, hatred, and delusion – and to consider what people might do when they are overcome by such mindstates. Most notably, might such people engage in harmful and destructive acts like murder, theft, adultery, and dishonesty? And do such actions lead to good results or bad results? The natural conclusion is apparent: greed, hatred, and delusion tend to lead to immoral behavior, which produces a variety of unpleasant results – regret, remorse, self-condemnation, a bad reputation, and so on. This is something that we can see and know for ourselves; we do not need to rely on hearsay or scripture or authority or any of the other invalid bases of belief which the Buddha listed.
SC 40“Kālāmas, do not go by hearsay. Do not go by tradition. Do not go by what seems appropriate. Do not go by scriptural authority. Do not go by thought. Do not go by inference. Do not go by logic. Do not go by personal preference. Do not go by a teacher‘s semblance of competence. Do not go by the thought ‘This contemplative is our teacher.’ Instead, Kālāmas, when you know for yourself, ‘These phenomena are wholesome, blameless, praised by the wise; when committed to, they lead to benefit and happiness,’ then live in accordance with them.
SC 41“What do you think, Kālāmas? When non-greed arises in a person, does that lead to benefit or harm?”
SC 42“Benefit, Bhante.”
SC 43“Kālāmas, when a person is not greedy and their mind is not overcome by greed, wouldn‘t they refrain from killing, stealing, committing adultery, telling lies, and encouraging others to do the same – which would lead to their long-term benefit and happiness?”
SC 44“Yes, Bhante.”
SC 45“What do you think, Kālāmas? When non-hatred arises in a person, does that lead to benefit or harm?”
SC 46“Benefit, Bhante.”
SC 47“Kālāmas, when a person is not filled with hate and their mind is not overcome by hatred, wouldn‘t they refrain from killing, stealing, committing adultery, telling lies, and encouraging others to do the same – which would lead to their long-term benefit and happiness?”
SC 48“Yes, Bhante.”
SC 49“What do you think, Kālāmas? When non-delusion arises in a person, does that lead to benefit or harm?”
SC 50“Benefit, Bhante.”
SC 51“Kālāmas, when a person is not deluded and their mind is not overcome by delusion, wouldn‘t they refrain from killing, stealing, committing adultery, telling lies, and encouraging others to do the same – which would lead to their long-term benefit and happiness?”
SC 52“Yes, Bhante.”
SC 53“What do you think, Kālāmas? Are these phenomena wholesome or unwholesome?”
SC 54“Wholesome, Bhante.”
SC 55“Blameworthy or blameless?”
SC 56“Blameless, Bhante.”
SC 57“Condemned by the wise or praised by the wise?”
SC 58“Praised by the wise, Bhante.”
SC 59“When committed to, do they lead to benefit and happiness? What is it in this case?”
SC 60“Bhante, when committed to, they lead to benefit and happiness. That is what we think in this case.”
SC 61“Kālāmas, that is why I said, ‘Do not go by hearsay… when you know for yourself, “These phenomena are wholesome, blameless, praised by the wise; when committed to, they lead to benefit and happiness,” then live in accordance with them.’ This is what was said, and it was said in reference to this.
SC 62This is the positive formulation: when we know what is wholesome, blameless, praiseworthy, and beneficial, then we make an effort to live accordingly, as we know it is worth committing to. Once again, this does not depend upon any of the ten invalid bases of belief; it relies on our own personal experience. So what does the Buddha point to? The absence of greed, hatred and delusion.
SC 63“Kālāmas, a noble disciple who is free of covetousness, free of aversion, unconfused, clearly comprehending, and mindful in this way, pervades one direction with a mind endowed with loving-friendliness; likewise the second, third, and fourth directions, above, below, all around, everywhere, and impartially, he pervades the entire world with a mind endowed with loving-friendliness – abundant, extensive, and limitless, free of hostility and aversion.
SC 64“He pervades one direction with a mind endowed with compassion… with sympathetic joy… with equanimity; likewise the second, third, and fourth directions, above, below, all around, everywhere, and impartially, he pervades the entire world with a mind endowed with equanimity – abundant, extensive, and limitless, free of hostility and aversion.
SC 65These four mindstates – loving-friendliness, compassion, sympathetic joy, and equanimity – are called “Divine Abodes” (brahma-vihāra). These are very pleasant mindstates that naturally lead to thinking, speaking, and acting in ways that are beneficial to everyone involved. They also directly counteract several harmful mindstates – such as hatred, cruelty, jealousy, and discontent.
SC 66The first one – loving-friendliness (mettā) – is the genuine wish for happiness. Optimally, this is extended universally to everyone: wishing for everyone to be happy, healthy, and safe. If that is too difficult, it is also acceptable to direct this wish towards a smaller group or even to just a single individual. In fact, when beginning to develop loving-friendliness, it is often easiest to begin by focusing on someone you already care about; then after you‘ve established a feeling of loving-friendliness towards that individual, you can extend it to include more – and eventually all sentient beings.
SC 67The second one – compassion (karuṇā) – is the wish for people to be free from suffering. While similar to loving-friendliness, this is a somewhat different mental quality. It is based in the recognition that most people experience various forms of dissatisfaction, irritation, and anguish; from that basis, one wishes for them to be free of that suffering. Compassion relies on a certain degree of wisdom: the ability to recognize the suffering of others. This is one of the main differences between compassion and loving-friendliness. The other is that while loving-friendliness is about wanting people to have pleasant experiences, compassion is about wanting people to not have unpleasant experiences.
SC 68The third one – sympathetic joy (muditā) – is experiencing happiness when we are aware of the happiness of others. This is the polar opposite of jealousy; it is the delight and joy that arises when we appreciate the good fortune that others are experiencing.
SC 69The fourth one – equanimity (upekkhā) – is maintaining our neutrality regardless of what we experience. Everything that we feel fits into one of three categories: pleasant, unpleasant, or neutral. Our usual tendency when we feel something pleasant is to become infatuated with it, attached to it; we like it, we want it, we crave it. When we feel something unpleasant, we tend to reject it and push it away; we hate it, we want it to stop, we want it to disappear. And when we feel something neutral, we tend to ignore it: it isn‘t interesting enough to hold our attention. Equanimity is maintaining clear awareness of the experience without falling into any of these three reactions – desire, aversion, and apathy.
SC 70“Kālāmas, when a noble disciple‘s mind is free of hostility, free of affliction, free of impurity, and purified in this way, there are four assurances3 he has attained about the visible world.
SC 71“‘If there is another world and there are effects and results of good and bad deeds, then when I am separated from this body after death, I will arise in a good destination: a heavenly world.’ This is the first assurance he has attained.
SC 72“‘If there is no other world and there are no effects or results of good and bad deeds, then in this visible world I keep myself free of hostility, free of affliction, untroubled, and happy.’ This is the second assurance he has attained.
SC 73“‘If harmful deeds return to the doer, then I know that since I have done nothing harmful, suffering cannot touch me.’ This is the third assurance he has attained.
SC 74“‘If harmful deeds do not return to the doer, then I see myself as pure in both ways.’ This is the fourth assurance he has attained.”
SC 75The basic idea here is that regardless of whether or not rebirth and karma are real, it is still a good idea to live a moral, virtuous life and to maintain wholesome, beneficial mindstates: if there are karmic consequences to our choices, then we benefit in future lives as well as this life; and if there are no karmic consequences, then we still live a happy life here and now. Thus we stand to benefit either way.
SC 76This fits in with the overall theme of the discourse: the Buddha is not telling the people of Kālāma to believe in rebirth and karma; instead, he is advising them to look at their own experiences in this life, so that they may draw the reasonable conclusion that he gives here: namely, that even if we don‘t know whether or not karma and rebirth are real, it is still worth acting as though they are. This is effectively the Buddhist version of “Pascal‘s Wager.”
SC 77A slightly different formulation of this concept can be found in the Apaṇṇaka Sutta (MN 60).
SC 78The Kālāmas reply, “Bhante, when a noble disciple‘s mind is free of hostility, free of affliction, free of impurity, and purified in this way, these are four assurances he has attained about the visible world. Excellent, Bhante! Excellent, Bhante! Bhante, it is just like someone set upright what had been overturned, or revealed what had been hidden, or described a path to one who is confused, or brought an oil lamp into the darkness so that those with eyes could see. In the same way, Bhante, the Dhamma has been demonstrated in many ways by the Blessed One. Bhante, we go for refuge to the Blessed One, to the Dhamma, and to the monastic Saṅgha. Bhante, let the Blessed One remember us as lay disciples who have gone for refuge for life.”
SC 79The people of Kālāma were apparently quite impressed with the Buddha‘s teachings, as after hearing it they took refuge in the Buddha, Dhamma, and Saṅgha: the standard way of expressing one‘s commitment to Buddhist practice. While the other spiritual teachers they encountered held forth a doctrine and expected blind belief, the Buddha did neither: instead, he encouraged them to examine their own experience, and guided them towards the appropriate conclusions – conclusions that naturally lead to living a life of moral rectitude and spiritual self-development. As these conclusions are based on their own direct experience rather than on mere faith, the people of Kālāma found them to be undeniable.
TTC 1—Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa dân chúng Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến Kesaputta, thị trấn của các người Kàlàmà.
Các người Kàlàmà ở Kesaputta được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích ca đã đến Kesaputta. Tiếng đồn tốt đẹp như sau được truyền đi về Sa-môn Gotama: Ngài là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Sau khi tự thực chứng, Ngài đã giảng dạy chư thiên và loài người, hàng tu sĩ và cư sĩ, vua chúa cùng thường dân, Ngài đã giảng Pháp cao diệu từ chặng đầu, chặng giữa, cho đến chặng cuối; Ngài đã giảng đời sống phạm hạnh chi tiết và rõ ràng, toàn hảo, hoàn toàn tinh khiết. Lành thay, nếu chúng tôi được yết kiến một vị Ứng cúng như vậy”.
TTC 2—Rồi các người Kàlàmà ở Kesaputta đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, có người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người nói lên với Thế Tôn những lời chào đón thăm hỏi, sau khi nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, các người Kàlàmà ở Kesaputta bạch Thế Tôn:
—Có một số Sa-môn, Bà-la-môn, bạch Thế Tôn, đi đến Kesaputta. Họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Bạch Thế Tôn, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng đi đến Kesaputta, họ làm sáng tỏ, làm chói sáng quan điểm của mình, nhưng họ bài xích quan điểm người khác, khinh miệt, chê bai, xuyên tạc. Ðối với họ, bạch Thế Tôn, chúng con có những nghi ngờ phân vân: “Trong những Tôn giả Sa-môn này, ai nói sự thật, ai nói láo?”
TTC 3—Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những nghi ngờ! Ðương nhiên, này các Kàlàmà, các Ông có những phân vân! Trong những trường hợp đáng nghi ngờ, các Ông đương nhiên khởi lên phân vân.
Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!
TTC 4Các Ông nghĩ thế nào, này Kàlàmà! Lòng tham khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
—Người này có tham, này các Kàlàmà, bị tham chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 5—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng sân khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
—Người này có sân, này các Kàlàmà, bị sân chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn..
TTC 6—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, lòng si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh?
—Bất hạnh, bạch Thế Tôn.
—Người này có si, này các Kàlàmà, bị si chinh phục, tâm bị xâm chiếm, giết các sinh vật, lấy của không cho, đi đến vợ người, nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy bất hạnh đau khổ lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 7—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là bất thiện, bạch Thế Tôn.
—Đáng chê hay không đáng chê?
—Có tội, bạch Thế Tôn.
—Bị người có trí quở trách hay không bị người có trí quở trách?
—Bị người có trí quở trách, bạch Thế Tôn.
—Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến bất hạnh đau khổ không? Hay ở đây, là như thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến bất hạnh, đau khổ, ở đây, đối với chúng con là vậy.
TTC 8—Như vậy, này các Kàlàmà, điều Ta vừa nói với các Ông: “Chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.”.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí quở trách; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau”, thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.
TTC 9Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết như sau: “Các pháp này là thiện; Các pháp này là không đáng chê; Các pháp này không bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Kàlàmà, hãy tự đạt đến và an trú!
TTC 10Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không tham, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy, là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
—Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
—Người này không tham, này các Kàlàmà, không bị tham chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có làm cho người ấy hạnh phúc an lạc lâu dài hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 11—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không sân, khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
—Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
—Người này không sân, này các Kàlàmà, không bị sân chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 12—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, không si khi khởi lên trong nội tâm người nào, khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất hạnh cho người ấy?
—Hạnh phúc, bạch Thế Tôn.
—Người này không si, này các Kàlàmà, không bị si chinh phục, tâm không bị xâm chiếm, không giết các sinh vật, không lấy của không cho, không đi đến vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. Như vậy, có đem lại hạnh phúc an lạc lâu dài cho người ấy hay không?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
TTC 13—Các Ông nghĩ thế nào, này các Kàlàmà, các pháp này là thiện hay bất thiện?
—Là thiện, bạch Thế Tôn.
—Các pháp này là đáng chê hay không đáng chê?
—Không đáng chê, bạch Thế Tôn.
—Bị người có trí quở trách hay được người có trí tán thán?
—Ðược người trí tán thán, bạch Thế Tôn.
—Nếu được thực hiện, được chấp nhận, có đưa đến hạnh phúc an lạc không, hay ở đây, là như thế nào?
—Ðược thực hiện, được chấp nhận, bạch Thế Tôn, chúng đưa đến hạnh phúc, an lạc. Ở đây, đối với chúng con là vậy.
TTC 14—Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: “Các pháp này là thiện; Các pháp này là không có tội; Các pháp này được người có trí tán thán; Các pháp này nếu được thực hiện, được chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc”, thời này Kàlàmà, hãy chứng đạt và an trú! Ðiều đã được nói lên như vậy, chính do duyên như vậy được nói lên.
TTC 15—Này các Kàlàmà, vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Từ biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Từ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
Vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Bi biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Bi, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
Vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Hỷ biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Hỷ, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
Vị Thánh đệ tử nào ly tham, ly sân, ly si như vậy, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với Xả biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai; cũng vậy phương thứ ba; cũng vậy phương thứ tư.
Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với Xả, quảng đại, đại hành, vô biên, không hận, không sân.
TTC 16Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, không sân như vậy, không uế nhiễm như vậy, thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, người ấy đạt được bốn sự an ổn:
i) “Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sanh lên cõi thiện, cõi trời, cõi đời này”; đây là an ổn thứ nhất vị ấy có được.
ii) “Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, thời ở đây, trong hiện tại, ta tự sống với tâm không oán, không sân, không phiền não, được an lạc”; đây là an ổn thứ hai vị ấy có được.
iii) “Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được”; đây là an ổn thứ ba vị ấy có được.
iv) “Nếu việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh”; đây là an ổn thứ tư vị ấy có được.
Thánh đệ tử ấy, này các Kàlàmà, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ổn này.
TTC 17—Sự việc là như vậy, bạch Thế Tôn! Sự việc là như vậy, bạch Thiện Thệ! Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ổn:
“Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh lên cõi thiện, cõi Trời, cõi đời này”; đây là an ổn thứ nhất vị ấy có được.
“Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục các nghiệp thiện ác, thời ở đây, trong hiện tại, ta tự sống với tâm không oán, không sân, không phiền não, được an lạc”; đây là an ổn thứ hai vị ấy có được.
“Nếu việc ác có làm, nhưng ta không có tâm ác đối với ai cả, và nếu ta không làm điều ác, sao ta có thể cảm thọ khổ đau được”; đây là an ổn thứ ba vị ấy có được.
“Nếu việc ác không có làm, như vậy, cả hai phương diện (do ta làm vô ý hay cố ý), ta quán thấy ta hoàn toàn thanh tịnh”; đây là an ổn thứ tư vị ấy có được.
Vị Thánh đệ tử ấy, bạch Thế Tôn, với tâm không oán như vậy, với tâm không sân như vậy, với tâm không uế nhiễm như vậy, với tâm thanh tịnh như vậy, ngay trong hiện tại, vị có được bốn an ổn này.
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Chúng con nay xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận chúng con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena kesamuttaṁ nāma kālāmānaṁ nigamo tadavasari.
Assosuṁ kho kesamuttiyā kālāmā:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kesamuttaṁ anuppatto.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā …pe…
sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī’”ti.
Atha kho kesamuttiyā kālāmā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu, appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te kesamuttiyā kālāmā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Santi, bhante, eke samaṇabrāhmaṇā kesamuttaṁ āgacchanti.
Te sakaṁyeva vādaṁ dīpenti jotenti, parappavādaṁ pana khuṁsenti vambhenti paribhavanti omakkhiṁ karonti.
Aparepi, bhante, eke samaṇabrāhmaṇā kesamuttaṁ āgacchanti.
Tepi sakaṁyeva vādaṁ dīpenti jotenti, parappavādaṁ pana khuṁsenti vambhenti paribhavanti omakkhiṁ karonti.
Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ hoteva kaṅkhā hoti vicikicchā:
‘ko su nāma imesaṁ bhavataṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ saccaṁ āha, ko musā’”ti?
“Alañhi vo, kālāmā, kaṅkhituṁ alaṁ vicikicchituṁ.
Kaṅkhanīyeva pana vo ṭhāne vicikicchā uppannā.
Etha tumhe, kālāmā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, kālāmā, attanāva jāneyyātha:
‘ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, kālāmā, pajaheyyātha.
Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
lobho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Ahitāya, bhante”.
“Luddho panāyaṁ, kālāmā, purisapuggalo lobhena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
doso purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Ahitāya, bhante”.
“Duṭṭho panāyaṁ, kālāmā, purisapuggalo dosena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
moho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Ahitāya, bhante”.
“Mūḷho panāyaṁ, kālāmā, purisapuggalo mohena abhibhūto pariyādinnacitto pāṇampi hanati, adinnampi ādiyati, paradārampi gacchati, musāpi bhaṇati, parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Akusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Sāvajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññugarahitā, bhante”.
“Samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattanti, no vā?
Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti.
Evaṁ no ettha hotī”ti.
“Iti kho, kālāmā, yaṁ taṁ avocumhā:
‘etha tumhe, kālāmā.
Mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe kālāmā attanāva jāneyyātha:
“ime dhammā akusalā, ime dhammā sāvajjā, ime dhammā viññugarahitā, ime dhammā samattā samādinnā ahitāya dukkhāya saṁvattantīti, atha tumhe, kālāmā, pajaheyyāthā”’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Etha tumhe, kālāmā, mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, kālāmā, attanāva jāneyyātha:
‘ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantī’ti, atha tumhe, kālāmā, upasampajja vihareyyātha.
Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
alobho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati hitāya vā ahitāya vā”ti?
“Hitāya, bhante”.
“Aluddho panāyaṁ, kālāmā, purisapuggalo lobhena anabhibhūto apariyādinnacitto neva pāṇaṁ hanati, na adinnaṁ ādiyati, na paradāraṁ gacchati, na musā bhaṇati, na parampi tathattāya samādapeti, yaṁ sa hoti dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā,
adoso purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati …pe…
amoho purisassa ajjhattaṁ uppajjamāno uppajjati …pe…
hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññatha, kālāmā, ime dhammā kusalā vā akusalā vā”ti?
“Kusalā, bhante”.
“Sāvajjā vā anavajjā vā”ti?
“Anavajjā, bhante”.
“Viññugarahitā vā viññuppasatthā vā”ti?
“Viññuppasatthā, bhante”.
“Samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti no vā?
Kathaṁ vā ettha hotī”ti?
“Samattā, bhante, samādinnā hitāya sukhāya saṁvattanti.
Evaṁ no ettha hotī”ti.
“Iti kho, kālāmā, yaṁ taṁ avocumhā:
‘etha tumhe, kālāmā.
Mā anussavena, mā paramparāya, mā itikirāya, mā piṭakasampadānena, mā takkahetu, mā nayahetu, mā ākāraparivitakkena, mā diṭṭhinijjhānakkhantiyā, mā bhabbarūpatāya, mā samaṇo no garūti.
Yadā tumhe, kālāmā, attanāva jāneyyātha—
ime dhammā kusalā, ime dhammā anavajjā, ime dhammā viññuppasatthā, ime dhammā samattā samādinnā hitāya sukhāya saṁvattantīti, atha tumhe, kālāmā, upasampajja vihareyyāthā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Sa kho so, kālāmā, ariyasāvako evaṁ vigatābhijjho vigatabyāpādo asammūḷho sampajāno patissato mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ, iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjhena pharitvā viharati.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ, iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjhena pharitvā viharati.
Sa kho so, kālāmā, ariyasāvako evaṁ averacitto evaṁ abyāpajjhacitto evaṁ asaṅkiliṭṭhacitto evaṁ visuddhacitto.
Tassa diṭṭheva dhamme cattāro assāsā adhigatā honti.
‘Sace kho pana atthi paro loko, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, athāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmī’ti, ayamassa paṭhamo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana natthi paro loko, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, athāhaṁ diṭṭheva dhamme averaṁ abyāpajjhaṁ anīghaṁ sukhiṁ attānaṁ pariharāmī’ti, ayamassa dutiyo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana karoto karīyati pāpaṁ, na kho panāhaṁ kassaci pāpaṁ cetemi.
Akarontaṁ kho pana maṁ pāpakammaṁ kuto dukkhaṁ phusissatī’ti, ayamassa tatiyo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana karoto na karīyati pāpaṁ, athāhaṁ ubhayeneva visuddhaṁ attānaṁ samanupassāmī’ti, ayamassa catuttho assāso adhigato hoti.
Sa kho so, kālāmā, ariyasāvako evaṁ averacitto evaṁ abyāpajjhacitto evaṁ asaṅkiliṭṭhacitto evaṁ visuddhacitto.
Tassa diṭṭheva dhamme ime cattāro assāsā adhigatā hontī”ti.
“Evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Sa kho so, bhante, ariyasāvako evaṁ averacitto evaṁ abyāpajjhacitto evaṁ asaṅkiliṭṭhacitto evaṁ visuddhacitto.
Tassa diṭṭheva dhamme cattāro assāsā adhigatā honti.
‘Sace kho pana atthi paro loko, atthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, athāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmī’ti, ayamassa paṭhamo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana natthi paro loko, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, athāhaṁ diṭṭheva dhamme averaṁ abyāpajjhaṁ anīghaṁ sukhiṁ attānaṁ pariharāmī’ti, ayamassa dutiyo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana karoto karīyati pāpaṁ, na kho panāhaṁ kassaci pāpaṁ cetemi, akarontaṁ kho pana maṁ pāpakammaṁ kuto dukkhaṁ phusissatī’ti, ayamassa tatiyo assāso adhigato hoti.
‘Sace kho pana karoto na karīyati pāpaṁ, athāhaṁ ubhayeneva visuddhaṁ attānaṁ samanupassāmī’ti, ayamassa catuttho assāso adhigato hoti.
Sa kho so, bhante, ariyasāvako evaṁ averacitto evaṁ abyāpajjhacitto evaṁ asaṅkiliṭṭhacitto evaṁ visuddhacitto.
Tassa diṭṭheva dhamme ime cattāro assāsā adhigatā honti.
Abhikkantaṁ, bhante …pe…
ete mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsake no, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
Pañcamaṁ.