TTC 1—Con sư tử, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, từ hang đi ra, sau khi từ hang đi ra, nó duỗi chân; sau khi nó duỗi chân, nó ngó xung quanh cả bốn phương; sau khi nó ngó xung quanh cả bốn phương, ba lần nó rống tiếng rống con sư tử; sau khi ba lần rống tiếng rống con sư tử, nó ra đi tìm mồi. Nếu nó vồ bắt con voi, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt con thủy ngưu, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt con báo, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt các con vật nhỏ khác như thỏ hay mèo, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Vì cớ sao? “Mong rằng uy lực của ta không có thất bại”.
TTC 2Con sư tử, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác. Khi Như Lai thuyết pháp cho hội chúng, tức là rống tiếng rống con sư tử. Này các Tỷ-kheo, nếu Như Lai thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo Ni, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng nam cư sĩ, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng nữ cư sĩ, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng phàm phu , cho các người bắt chim hay xin ăn, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Vì cớ sao? Vì Như Lai là bậc tôn trọng Pháp, này các Tỷ-kheo, là bậc tôn kính Pháp.
“Sīho, bhikkhave, migarājā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhamati;
āsayā nikkhamitvā vijambhati;
vijambhitvā samantā catuddisaṁ anuviloketi;
samantā catuddisaṁ anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadati;
tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkamati.
So hatthissa cepi pahāraṁ deti, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ;
mahiṁsassa cepi pahāraṁ deti, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ;
gavassa cepi pahāraṁ deti, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ;
dīpissa cepi pahāraṁ deti, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ;
khuddakānañcepi pāṇānaṁ pahāraṁ deti antamaso sasabiḷārānampi, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ.
Taṁ kissa hetu?
‘Mā me yoggapatho nassā’ti.
Sīhoti kho, bhikkhave, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
Yaṁ kho, bhikkhave, tathāgato parisāya dhammaṁ deseti, idamassa hoti sīhanādasmiṁ.
Bhikkhūnañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ;
bhikkhunīnañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ;
upāsakānañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ;
upāsikānañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ;
puthujjanānañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti antamaso annabhāranesādānampi, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Dhammagaru, bhikkhave, tathāgato dhammagāravo”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, towards evening the lion, king of beasts, emerges from his den,
yawns,
surveys the four quarters,
and roars his lion’s roar three times.
Then he sets out on the hunt.
If he strikes an elephant, he does it carefully, not carelessly.
If he strikes a buffalo …
a cow …
a leopard …
or any smaller creatures—even a hare or a cat—he does it carefully, not carelessly.
Why is that?
Thinking: ‘May I not lose my way.’
‘Lion’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
When the Realized One teaches Dhamma to an assembly, this is his lion’s roar.
When the Realized One teaches the monks …
nuns …
laymen …
laywomen …
or ordinary people—even food-carriers and hunters—he teaches them carefully, not carelessly.
Why is that?
Because the Realized One has respect and reverence for the teaching.”
TTC 1—Con sư tử, này các Tỷ-kheo, vào buổi chiều, từ hang đi ra, sau khi từ hang đi ra, nó duỗi chân; sau khi nó duỗi chân, nó ngó xung quanh cả bốn phương; sau khi nó ngó xung quanh cả bốn phương, ba lần nó rống tiếng rống con sư tử; sau khi ba lần rống tiếng rống con sư tử, nó ra đi tìm mồi. Nếu nó vồ bắt con voi, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt con thủy ngưu, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt con báo, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu nó vồ bắt các con vật nhỏ khác như thỏ hay mèo, nó vồ bắt rất cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Vì cớ sao? “Mong rằng uy lực của ta không có thất bại”.
TTC 2Con sư tử, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác. Khi Như Lai thuyết pháp cho hội chúng, tức là rống tiếng rống con sư tử. Này các Tỷ-kheo, nếu Như Lai thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các vị Tỷ-kheo Ni, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng nam cư sĩ, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng nữ cư sĩ, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Nếu Như Lai thuyết pháp cho các hàng phàm phu , cho các người bắt chim hay xin ăn, Như Lai thuyết pháp hết sức cẩn thận, chu đáo, không phải không cẩn thận, chu đáo. Vì cớ sao? Vì Như Lai là bậc tôn trọng Pháp, này các Tỷ-kheo, là bậc tôn kính Pháp.
“Sīho, bhikkhave, migarājā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhamati;
āsayā nikkhamitvā vijambhati;
vijambhitvā samantā catuddisaṁ anuviloketi;
samantā catuddisaṁ anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadati;
tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkamati.
So hatthissa cepi pahāraṁ deti, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ;
mahiṁsassa cepi pahāraṁ deti, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ;
gavassa cepi pahāraṁ deti, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ;
dīpissa cepi pahāraṁ deti, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ;
khuddakānañcepi pāṇānaṁ pahāraṁ deti antamaso sasabiḷārānampi, sakkaccaññeva pahāraṁ deti, no asakkaccaṁ.
Taṁ kissa hetu?
‘Mā me yoggapatho nassā’ti.
Sīhoti kho, bhikkhave, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
Yaṁ kho, bhikkhave, tathāgato parisāya dhammaṁ deseti, idamassa hoti sīhanādasmiṁ.
Bhikkhūnañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ;
bhikkhunīnañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ;
upāsakānañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ;
upāsikānañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ;
puthujjanānañcepi, bhikkhave, tathāgato dhammaṁ deseti antamaso annabhāranesādānampi, sakkaccaññeva tathāgato dhammaṁ deseti, no asakkaccaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Dhammagaru, bhikkhave, tathāgato dhammagāravo”ti.
Navamaṁ.