TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sumana trú ở Sàvavatthì, tại rừng Andha. Rồi Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Khema bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn tận, chánh trí giải thoát. Vị ấy không nghĩ rằng: “Có người tốt hơn ta” hay “Có người giống như ta” hay “Có người hạ liệt hơn ta”.
Tôn giả Khema nói như vậy, Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Tôn giả Khema nghĩ rằng: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tôn giả Sumana, khi Tôn giả Khema ra đi không bao lâu, liền bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn tận, chánh trí giải thoát. Vị ấy không nghĩ rằng: “Có người tốt hơn ta”, hay “Có người giống như ta”, hay “Có người hạ liệt hơn ta”.
Tôn giả Sumana nói như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Tôn giả Sumana nghĩ rằng: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 2Rồi Thế Tôn, sau khi Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana ra đi không bao lâu, liền bảo các Tỷ-kheo:
—Như vậy, này các Tỷ-kheo, các thiện nam tử nói lên chánh trí, có nói đến mục đích, nhưng không đề cập đến tự ngã. Tuy vậy, ở đây một số kẻ ngu nói lên chánh trí một cách ngạo mạn đắc chí. Họ về sau rơi vào nguy hại.
Không thắng, không hạ liệt,
Không ai đồng đẳng Ta,
Những tư tưởng như vậy
Không chi phối các vị.
Sanh khởi đã chấm dứt,
Phạm hạnh được viên thành,
Họ lìa bỏ kiết sử,
Hoàn toàn được giải thoát.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā ca khemo āyasmā ca sumano sāvatthiyaṁ viharanti andhavanasmiṁ.
Atha kho āyasmā ca khemo āyasmā ca sumano yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā khemo bhagavantaṁ etadavoca:
“Yo so, bhante, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa na evaṁ hoti:
‘atthi me seyyoti vā atthi me sadisoti vā atthi me hīnoti vā’”ti.
Idamavocāyasmā khemo.
Samanuñño satthā ahosi.
Atha kho āyasmā khemo “samanuñño me satthā”ti uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho āyasmā sumano acirapakkante āyasmante kheme bhagavantaṁ etadavoca:
“yo so, bhante, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa na evaṁ hoti:
‘natthi me seyyoti vā natthi me sadisoti vā natthi me hīnoti vā’”ti.
Idamavocāyasmā sumano.
Samanuñño satthā ahosi.
Atha kho āyasmā sumano “samanuñño me satthā”ti uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkantesu āyasmante ca kheme āyasmante ca sumane bhikkhū āmantesi:
“evaṁ kho, bhikkhave, kulaputtā aññaṁ byākaronti.
Attho ca vutto attā ca anupanīto.
Atha ca pana idhekacce moghapurisā hasamānakā maññe aññaṁ byākaronti.
Te pacchā vighātaṁ āpajjantīti.
Na ussesu na omesu,
Samatte nopanīyare;
Khīṇā jāti vusitaṁ brahmacariyaṁ,
Caranti saṁyojanavippamuttā”ti.
Sattamaṁ.
On one occasion the Blessed One was staying near Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapindika’s monastery. And at that time Ven. Khema and Ven. Sumana were staying near Savatthi in the Blind Man’s Grove. Then Ven. Khema and Ven. Sumana went to the Blessed One and on arrival, have bowed down to him, sat to one side. As he was sitting there, Ven. Khema said to the Blessed One, “When a monk is an arahant, with his fermentations ended—one who has reached fulfillment, done the task, laid down the burden, attained the true goal, totally destroyed the fetter of becoming, and is released through right gnosis—the thought doesn’t occur to him that ‘There is someone better than me,’ or ‘There is someone equal to me,’ or ‘There is someone worse than me.’” That is what Ven. Khema said, and the Teacher approved. Sensing that “The Teacher approves of me,” Ven. Khema got up from his seat, bowed down to the Blessed One, circled him—keeping him on his right—and left.
Then Ven. Sumana, not long after Ven. Khema had left, said to the Blessed One, “When a monk is an arahant, with his fermentations ended—one who has reached fulfillment, done the task, laid down the burden, attained the true goal, totally destroyed the fetter of becoming, and is released through right gnosis—the thought doesn’t occur to him that ‘There is no one better than me,’ or ‘There is no one equal to me,’ or ‘There is no one worse than me.’” That is what Ven. Sumana said, and the Teacher approved. Sensing that “The Teacher approves of me,” Ven. Sumana got up from his seat, bowed down to the Blessed One, circled him—keeping him on his right—and left.
Then the Blessed One, not long after Ven. Khema & Ven. Sumana had left, said to the monks, “Monks, this is how clansmen declare gnosis. The meaning [of gnosis] is stated, but without mention of self. Yet there are some worthless people who declare gnosis as if in jest. They will fall into trouble afterward.
Not as higher, lower, nor equal
do they refer to themselves.
With birth ended,
the holy life fulfilled
they go about
totally freed from fetters.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvavatthì, Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sumana trú ở Sàvavatthì, tại rừng Andha. Rồi Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Khema bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn tận, chánh trí giải thoát. Vị ấy không nghĩ rằng: “Có người tốt hơn ta” hay “Có người giống như ta” hay “Có người hạ liệt hơn ta”.
Tôn giả Khema nói như vậy, Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Tôn giả Khema nghĩ rằng: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tôn giả Sumana, khi Tôn giả Khema ra đi không bao lâu, liền bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã đoạn tận, chánh trí giải thoát. Vị ấy không nghĩ rằng: “Có người tốt hơn ta”, hay “Có người giống như ta”, hay “Có người hạ liệt hơn ta”.
Tôn giả Sumana nói như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Tôn giả Sumana nghĩ rằng: “Thế Tôn đã chấp nhận ta”. Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 2Rồi Thế Tôn, sau khi Tôn giả Khema và Tôn giả Sumana ra đi không bao lâu, liền bảo các Tỷ-kheo:
—Như vậy, này các Tỷ-kheo, các thiện nam tử nói lên chánh trí, có nói đến mục đích, nhưng không đề cập đến tự ngã. Tuy vậy, ở đây một số kẻ ngu nói lên chánh trí một cách ngạo mạn đắc chí. Họ về sau rơi vào nguy hại.
Không thắng, không hạ liệt,
Không ai đồng đẳng Ta,
Những tư tưởng như vậy
Không chi phối các vị.
Sanh khởi đã chấm dứt,
Phạm hạnh được viên thành,
Họ lìa bỏ kiết sử,
Hoàn toàn được giải thoát.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā ca khemo āyasmā ca sumano sāvatthiyaṁ viharanti andhavanasmiṁ.
Atha kho āyasmā ca khemo āyasmā ca sumano yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā khemo bhagavantaṁ etadavoca:
“Yo so, bhante, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa na evaṁ hoti:
‘atthi me seyyoti vā atthi me sadisoti vā atthi me hīnoti vā’”ti.
Idamavocāyasmā khemo.
Samanuñño satthā ahosi.
Atha kho āyasmā khemo “samanuñño me satthā”ti uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho āyasmā sumano acirapakkante āyasmante kheme bhagavantaṁ etadavoca:
“yo so, bhante, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa na evaṁ hoti:
‘natthi me seyyoti vā natthi me sadisoti vā natthi me hīnoti vā’”ti.
Idamavocāyasmā sumano.
Samanuñño satthā ahosi.
Atha kho āyasmā sumano “samanuñño me satthā”ti uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkantesu āyasmante ca kheme āyasmante ca sumane bhikkhū āmantesi:
“evaṁ kho, bhikkhave, kulaputtā aññaṁ byākaronti.
Attho ca vutto attā ca anupanīto.
Atha ca pana idhekacce moghapurisā hasamānakā maññe aññaṁ byākaronti.
Te pacchā vighātaṁ āpajjantīti.
Na ussesu na omesu,
Samatte nopanīyare;
Khīṇā jāti vusitaṁ brahmacariyaṁ,
Caranti saṁyojanavippamuttā”ti.
Sattamaṁ.