TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Rồi Thích tử Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Thích tử Mahànàma bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là người nam cư sĩ?
—Này Mahànàma, khi nào quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, cho đến như vậy, này Mahànàma, là người nam cư sĩ.
TTC 2—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ giữ giới?
—Này, Mahànàma, khi nào người nam cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, cho đến như vậy, là người nam cư sĩ giữ giới.
TTC 3—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ thực hành, vì tư lợi chứ không vì lợi tha?
—Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ thành tựu lòng tin cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu lòng tin; thành tựu giữ giới cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu giữ giới, thành tựu bố thí cho mình, không khích lệ người khác thành tựu bố thí; muốn tự mình đi đến yết kiến các Tỷ-kheo, không có khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ kheo; chỉ tự mình muốn nghe diệu pháp, không khích lệ người khác nghe diệu pháp; tự mình thọ trì những pháp đã được nghe, không khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì, không khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp, không khích lệ người khác thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi, không phải vì lợi tha.
TTC 4—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là nam cư sĩ thực hành vừa tự lợi, vừa lợi tha?
—Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ tự mình thành tựu lòng tin và khích lệ người khác thành tựu lòng tin; khi nào tự mình giữ giới và khích lệ người khác giữ giới; khi nào tự mình bố thí và khích lệ người khác bố thí; khi nào tự mình muốn đi đến yết kiến các Tỷ-kheo và khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ-kheo; khi nào tự mình muốn nghe diệu pháp và khích lệ người khác nghe diệu pháp; khi nào tự mình thọ trì những pháp đã được nghe và khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; khi nào tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì và khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp, khích lệ người khác sau khi biết nghĩa biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi và lợi tha.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, bhante, upāsako hotī”ti?
“Yato kho, mahānāma, buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti;
ettāvatā kho, mahānāma, upāsako hotī”ti.
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako sīlavā hotī”ti?
“Yato kho, mahānāma, upāsako pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti;
ettāvatā kho, mahānāma, upāsako sīlavā hotī”ti.
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāyā”ti?
“Yato kho, mahānāma, upāsako attanāva saddhāsampanno hoti, no paraṁ saddhāsampadāya samādapeti;
attanāva sīlasampanno hoti, no paraṁ sīlasampadāya samādapeti;
attanāva cāgasampanno hoti, no paraṁ cāgasampadāya samādapeti;
attanāva bhikkhūnaṁ dassanakāmo hoti, no paraṁ bhikkhūnaṁ dassane samādapeti;
attanāva saddhammaṁ sotukāmo hoti, no paraṁ saddhammassavane samādapeti;
attanāva sutānaṁ dhammānaṁ dhāraṇajātiko hoti, no paraṁ dhammadhāraṇāya samādapeti;
attanāva sutānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhitā hoti, no paraṁ atthūpaparikkhāya samādapeti;
attanāva atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti, no paraṁ dhammānudhammappaṭipattiyā samādapeti.
Ettāvatā kho, mahānāma, upāsako attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāyā”ti.
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako attahitāya ca paṭipanno hoti parahitāya cā”ti?
“Yato kho, mahānāma, upāsako attanā ca saddhāsampanno hoti, parañca saddhāsampadāya samādapeti;
attanā ca sīlasampanno hoti, parañca sīlasampadāya samādapeti;
attanā ca cāgasampanno hoti, parañca cāgasampadāya samādapeti;
attanā ca bhikkhūnaṁ dassanakāmo hoti, parañca bhikkhūnaṁ dassane samādapeti;
attanā ca saddhammaṁ sotukāmo hoti, parañca saddhammassavane samādapeti;
attanā ca sutānaṁ dhammānaṁ dhāraṇajātiko hoti, parañca dhammadhāraṇāya samādapeti;
attanā ca sutānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhitā hoti, parañca atthūpaparikkhāya samādapeti,
attanā ca atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti, parañca dhammānudhammappaṭipattiyā samādapeti.
Ettāvatā kho, mahānāma, upāsako attahitāya ca paṭipanno hoti parahitāya cā”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Sakyans at Kapilavatthu in the Banyan Tree Park. Then Mahānāma the Sakyan approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
“In what way, Bhante, is one a lay follower?”
SC 2“When, Mahānāma, one has gone for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Saṅgha, in that way one is a lay follower.”
“In what way, Bhante, is a lay follower virtuous?”
SC 3“When, Mahānāma, a lay follower abstains from the destruction of life, from taking what is not given, from sexual misconduct, from false speech, and from liquor, wine, and intoxicants, the basis for heedlessness, in that way a lay follower is virtuous.”
SC 4“In what way, Bhante, is a lay follower practicing for his own welfare but not for the welfare of others?” an.iv.221
SC 5(1) “When, Mahānāma, a lay follower is himself accomplished in faith but does not encourage others to accomplish faith; (2) when he is himself accomplished in virtuous behavior but does not encourage others to accomplish virtuous behavior; (3) when he is himself accomplished in generosity but does not encourage others to accomplish generosity; (4) when he himself wants to see bhikkhus but does not encourage others to see bhikkhus; (5) when he himself wants to hear the good Dhamma but does not encourage others to hear the good Dhamma; (6) when he himself retains in mind the teachings he has heard but does not encourage others to retain the teachings in mind; (7) when he himself examines the meaning of the teachings that have been retained in mind but does not encourage others to examine their meaning; (8) when he himself has understood the meaning and the Dhamma and practices in accordance with the Dhamma, but does not encourage others to do so: it is in this way, Mahānāma, that a lay follower is practicing for his own welfare but not for the welfare of others.
SC 6“In what way, Bhante, is a lay follower practicing for his own welfare and for the welfare of others?”
SC 7(1) “When, Mahānāma, a lay follower is himself accomplished in faith and also encourages others to accomplish faith; (2) when he is himself accomplished in virtuous behavior and also encourages others to accomplish virtuous behavior; (3) when he is himself accomplished in generosity and also encourages others to accomplish generosity; (4) when he himself wants to see bhikkhus and also encourages others to see bhikkhus; (5) when he himself wants to hear the good Dhamma and also encourages others to hear the good Dhamma; (6) when he himself retains in mind the teachings he has heard and also encourages others to retain the teachings in mind; (7) when he himself examines the meaning of the teachings that have been retained in mind and also encourages others to examine their meaning; (8) when he himself understands the meaning an.iv.222 and the Dhamma and then practices in accordance with the Dhamma, and also encourages others to practice in accordance with the Dhamma: it is in this way, Mahānāma, that a lay follower is practicing for his own welfare and also for the welfare of others.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Rồi Thích tử Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Thích tử Mahànàma bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là người nam cư sĩ?
—Này Mahànàma, khi nào quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, cho đến như vậy, này Mahànàma, là người nam cư sĩ.
TTC 2—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ giữ giới?
—Này, Mahànàma, khi nào người nam cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, cho đến như vậy, là người nam cư sĩ giữ giới.
TTC 3—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ thực hành, vì tư lợi chứ không vì lợi tha?
—Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ thành tựu lòng tin cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu lòng tin; thành tựu giữ giới cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu giữ giới, thành tựu bố thí cho mình, không khích lệ người khác thành tựu bố thí; muốn tự mình đi đến yết kiến các Tỷ-kheo, không có khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ kheo; chỉ tự mình muốn nghe diệu pháp, không khích lệ người khác nghe diệu pháp; tự mình thọ trì những pháp đã được nghe, không khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì, không khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp, không khích lệ người khác thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi, không phải vì lợi tha.
TTC 4—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là nam cư sĩ thực hành vừa tự lợi, vừa lợi tha?
—Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ tự mình thành tựu lòng tin và khích lệ người khác thành tựu lòng tin; khi nào tự mình giữ giới và khích lệ người khác giữ giới; khi nào tự mình bố thí và khích lệ người khác bố thí; khi nào tự mình muốn đi đến yết kiến các Tỷ-kheo và khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ-kheo; khi nào tự mình muốn nghe diệu pháp và khích lệ người khác nghe diệu pháp; khi nào tự mình thọ trì những pháp đã được nghe và khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; khi nào tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì và khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp, khích lệ người khác sau khi biết nghĩa biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi và lợi tha.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“kittāvatā nu kho, bhante, upāsako hotī”ti?
“Yato kho, mahānāma, buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti;
ettāvatā kho, mahānāma, upāsako hotī”ti.
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako sīlavā hotī”ti?
“Yato kho, mahānāma, upāsako pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti;
ettāvatā kho, mahānāma, upāsako sīlavā hotī”ti.
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāyā”ti?
“Yato kho, mahānāma, upāsako attanāva saddhāsampanno hoti, no paraṁ saddhāsampadāya samādapeti;
attanāva sīlasampanno hoti, no paraṁ sīlasampadāya samādapeti;
attanāva cāgasampanno hoti, no paraṁ cāgasampadāya samādapeti;
attanāva bhikkhūnaṁ dassanakāmo hoti, no paraṁ bhikkhūnaṁ dassane samādapeti;
attanāva saddhammaṁ sotukāmo hoti, no paraṁ saddhammassavane samādapeti;
attanāva sutānaṁ dhammānaṁ dhāraṇajātiko hoti, no paraṁ dhammadhāraṇāya samādapeti;
attanāva sutānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhitā hoti, no paraṁ atthūpaparikkhāya samādapeti;
attanāva atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti, no paraṁ dhammānudhammappaṭipattiyā samādapeti.
Ettāvatā kho, mahānāma, upāsako attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāyā”ti.
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako attahitāya ca paṭipanno hoti parahitāya cā”ti?
“Yato kho, mahānāma, upāsako attanā ca saddhāsampanno hoti, parañca saddhāsampadāya samādapeti;
attanā ca sīlasampanno hoti, parañca sīlasampadāya samādapeti;
attanā ca cāgasampanno hoti, parañca cāgasampadāya samādapeti;
attanā ca bhikkhūnaṁ dassanakāmo hoti, parañca bhikkhūnaṁ dassane samādapeti;
attanā ca saddhammaṁ sotukāmo hoti, parañca saddhammassavane samādapeti;
attanā ca sutānaṁ dhammānaṁ dhāraṇajātiko hoti, parañca dhammadhāraṇāya samādapeti;
attanā ca sutānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhitā hoti, parañca atthūpaparikkhāya samādapeti,
attanā ca atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti, parañca dhammānudhammappaṭipattiyā samādapeti.
Ettāvatā kho, mahānāma, upāsako attahitāya ca paṭipanno hoti parahitāya cā”ti.
Pañcamaṁ.