—Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Ðạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.
Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Các Ðạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Ðáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là cha mẹ đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời.
Mẹ cha gọi Phạm Thiên,
Bậc Ðạo sư thời trước
Xứng đáng được cúng dường
Vì thương đến con cháu
Do vậy, bậc Hiền triết
Ðảnh lễ và tôn trọng
Dâng đồ ăn đồ uống
Vải mặc và giường nằm
Thoa bóp (cả thân mình)
Tắm rửa cả tay chân
Với sở hành như vậy,
Ðối với mẹ cha
Ðời này người Hiền khen
Ðời sau hưởng Thiên lạc
“Sabrahmakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbācariyakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sāhuneyyāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
‘Brahmā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Pubbācariyā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Āhuneyyā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Bahukārā, bhikkhave, mātāpitaro puttānaṁ, āpādakā posakā, imassa lokassa dassetāroti.
Brahmāti mātāpitaro,
pubbācariyāti vuccare;
Āhuneyyā ca puttānaṁ,
pajāya anukampakā.
Tasmā hi ne namasseyya,
sakkareyya ca paṇḍito;
Annena atha pānena,
vatthena sayanena ca;
Ucchādanena nhāpanena,
pādānaṁ dhovanena ca.
Tāya naṁ pāricariyāya,
mātāpitūsu paṇḍitā;
Idheva naṁ pasaṁsanti,
pecca sagge pamodatī”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1(1) “Bhikkhus, those families dwell with Brahmā where at home the mother and father are revered by their children. (2) Those families dwell with the first teachers where at home the mother and father are revered by their children. (3) Those families dwell with the gift-worthy where at home the mother and father are revered by their children.
SC 2“‘Brahmā,’ bhikkhus, is a designation for mother and father. ‘First teachers’ is a designation for mother and father. ‘Giftworthy’ is a designation for mother and father. For what reason? Mother and father are helpful to their children: they raise them, nurture them, and show them the world.”
SC 3Mother and father are called “Brahmā”
and also “first teachers.”
They are worthy of gifts from their children,
for they have compassion for their offspring.
SC 4Therefore a wise person should revere them,
and show them due honor,
serve them with food and drink,
with clothes and bedding,
by massaging and bathing them,
and by washing their feet.
SC 5Because of this service
to mother and father,
the wise praise one in this world
and after death one rejoices in heaven.
—Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Ðạo sư thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỷ-kheo, trong ấy, các con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được chấp nhận là đáng được cúng dường.
Phạm Thiên, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Các Ðạo sư thời xưa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Ðáng được cúng dường, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với cha mẹ. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là cha mẹ đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục chúng, giới thiệu chúng vào đời.
Mẹ cha gọi Phạm Thiên,
Bậc Ðạo sư thời trước
Xứng đáng được cúng dường
Vì thương đến con cháu
Do vậy, bậc Hiền triết
Ðảnh lễ và tôn trọng
Dâng đồ ăn đồ uống
Vải mặc và giường nằm
Thoa bóp (cả thân mình)
Tắm rửa cả tay chân
Với sở hành như vậy,
Ðối với mẹ cha
Ðời này người Hiền khen
Ðời sau hưởng Thiên lạc
“Sabrahmakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sapubbācariyakāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
Sāhuneyyāni, bhikkhave, tāni kulāni yesaṁ puttānaṁ mātāpitaro ajjhāgāre pūjitā honti.
‘Brahmā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Pubbācariyā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
‘Āhuneyyā’ti, bhikkhave, mātāpitūnaṁ etaṁ adhivacanaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Bahukārā, bhikkhave, mātāpitaro puttānaṁ, āpādakā posakā, imassa lokassa dassetāroti.
Brahmāti mātāpitaro,
pubbācariyāti vuccare;
Āhuneyyā ca puttānaṁ,
pajāya anukampakā.
Tasmā hi ne namasseyya,
sakkareyya ca paṇḍito;
Annena atha pānena,
vatthena sayanena ca;
Ucchādanena nhāpanena,
pādānaṁ dhovanena ca.
Tāya naṁ pāricariyāya,
mātāpitūsu paṇḍitā;
Idheva naṁ pasaṁsanti,
pecca sagge pamodatī”ti.
Paṭhamaṁ.