TTC 1—Có hai hy vọng này, này các Tỷ-kheo, khó được từ bỏ. Thế nào là hai? Hy vọng được lợi dưỡng và hy vọng được sống. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai hy vọng khó được từ bỏ.
TTC 2Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thi ân trước và người biết nhớ ơn đã làm. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
TTC 3Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thỏa mãn và người làm người khác thỏa mãn. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
TTC 4Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người cất chứa các lợi dưỡng và người phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người khó làm cho thỏa mãn.
TTC 5Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, dễ làm thỏa mãn. Thế nào là hai? Người không cất chứa các lợi dưỡng và người không phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người dễ làm thỏa mãn ở đời.
TTC 6Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tham sanh khởi. Thế nào là hai? Tịnh tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tham sanh khởi.
TTC 7Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến sân sanh khởi. Thế nào là hai? Chướng ngại tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến sân sanh khởi.
TTC 8Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tà kiến sanh khởi.
TTC 9Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến chánh kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến chánh kiến sanh khởi.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm . Thế nào là hai? Tội phạm nhẹ và tội phạm nặng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
TTC 11Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm. Thế nào là hai? Tội phạm thô trọng và tội phạm không thô trọng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
TTC 12Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm. Thế nào là hai? Tội phạm có dư tàn và tội phạm không có dư tàn. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
118
“Dvemā, bhikkhave, āsā duppajahā.
Katamā dve?
Lābhāsā ca jīvitāsā ca.
Imā kho, bhikkhave, dve āsā duppajahā”ti.
119
“Dveme, bhikkhave, puggalā dullabhā lokasmiṁ.
Katame dve?
Yo ca pubbakārī, yo ca kataññū katavedī.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā dullabhā lokasmin”ti.
120
“Dveme, bhikkhave, puggalā dullabhā lokasmiṁ.
Katame dve?
Titto ca tappetā ca.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā dullabhā lokasmin”ti.
121
“Dveme, bhikkhave, puggalā duttappayā.
Katame dve?
Yo ca laddhaṁ laddhaṁ nikkhipati, yo ca laddhaṁ laddhaṁ vissajjeti.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā duttappayā”ti.
122
“Dveme, bhikkhave, puggalā sutappayā.
Katame dve?
Yo ca laddhaṁ laddhaṁ na nikkhipati, yo ca laddhaṁ laddhaṁ na vissajjeti.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā sutappayā”ti.
123
“Dveme, bhikkhave, paccayā rāgassa uppādāya.
Katame dve?
Subhanimittañca ayoniso ca manasikāro.
Ime kho, bhikkhave, dve paccayā rāgassa uppādāyā”ti.
124
“Dveme, bhikkhave, paccayā dosassa uppādāya.
Katame dve?
Paṭighanimittañca ayoniso ca manasikāro.
Ime kho, bhikkhave, dve paccayā dosassa uppādāyā”ti.
125
“Dveme, bhikkhave, paccayā micchādiṭṭhiyā uppādāya.
Katame dve?
Parato ca ghoso ayoniso ca manasikāro.
Ime kho, bhikkhave, dve paccayā micchādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
126
“Dveme, bhikkhave, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya.
Katame dve?
Parato ca ghoso, yoniso ca manasikāro.
Ime kho, bhikkhave, dve paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
127
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo.
Katamā dve?
Lahukā ca āpatti, garukā ca āpatti.
Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
128
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo.
Katamā dve?
Duṭṭhullā ca āpatti, aduṭṭhullā ca āpatti.
Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
129
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo.
Katamā dve?
Sāvasesā ca āpatti, anavasesā ca āpatti.
Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
Āsāduppajahavaggo paṭhamo.
2.119. Hard to Find
“Monks, these two people are hard to find in the world. Which two? The one who is first to do a kindness, and the one who is grateful for a kindness done and feels obligated to repay it. These two people are hard to find in the world.”
TTC 1—Có hai hy vọng này, này các Tỷ-kheo, khó được từ bỏ. Thế nào là hai? Hy vọng được lợi dưỡng và hy vọng được sống. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai hy vọng khó được từ bỏ.
TTC 2Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thi ân trước và người biết nhớ ơn đã làm. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
TTC 3Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thỏa mãn và người làm người khác thỏa mãn. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.
TTC 4Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người cất chứa các lợi dưỡng và người phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người khó làm cho thỏa mãn.
TTC 5Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, dễ làm thỏa mãn. Thế nào là hai? Người không cất chứa các lợi dưỡng và người không phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người dễ làm thỏa mãn ở đời.
TTC 6Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tham sanh khởi. Thế nào là hai? Tịnh tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tham sanh khởi.
TTC 7Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến sân sanh khởi. Thế nào là hai? Chướng ngại tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến sân sanh khởi.
TTC 8Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tà kiến sanh khởi.
TTC 9Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến chánh kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến chánh kiến sanh khởi.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm . Thế nào là hai? Tội phạm nhẹ và tội phạm nặng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
TTC 11Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm. Thế nào là hai? Tội phạm thô trọng và tội phạm không thô trọng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
TTC 12Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm. Thế nào là hai? Tội phạm có dư tàn và tội phạm không có dư tàn. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.
118
“Dvemā, bhikkhave, āsā duppajahā.
Katamā dve?
Lābhāsā ca jīvitāsā ca.
Imā kho, bhikkhave, dve āsā duppajahā”ti.
119
“Dveme, bhikkhave, puggalā dullabhā lokasmiṁ.
Katame dve?
Yo ca pubbakārī, yo ca kataññū katavedī.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā dullabhā lokasmin”ti.
120
“Dveme, bhikkhave, puggalā dullabhā lokasmiṁ.
Katame dve?
Titto ca tappetā ca.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā dullabhā lokasmin”ti.
121
“Dveme, bhikkhave, puggalā duttappayā.
Katame dve?
Yo ca laddhaṁ laddhaṁ nikkhipati, yo ca laddhaṁ laddhaṁ vissajjeti.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā duttappayā”ti.
122
“Dveme, bhikkhave, puggalā sutappayā.
Katame dve?
Yo ca laddhaṁ laddhaṁ na nikkhipati, yo ca laddhaṁ laddhaṁ na vissajjeti.
Ime kho, bhikkhave, dve puggalā sutappayā”ti.
123
“Dveme, bhikkhave, paccayā rāgassa uppādāya.
Katame dve?
Subhanimittañca ayoniso ca manasikāro.
Ime kho, bhikkhave, dve paccayā rāgassa uppādāyā”ti.
124
“Dveme, bhikkhave, paccayā dosassa uppādāya.
Katame dve?
Paṭighanimittañca ayoniso ca manasikāro.
Ime kho, bhikkhave, dve paccayā dosassa uppādāyā”ti.
125
“Dveme, bhikkhave, paccayā micchādiṭṭhiyā uppādāya.
Katame dve?
Parato ca ghoso ayoniso ca manasikāro.
Ime kho, bhikkhave, dve paccayā micchādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
126
“Dveme, bhikkhave, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya.
Katame dve?
Parato ca ghoso, yoniso ca manasikāro.
Ime kho, bhikkhave, dve paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
127
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo.
Katamā dve?
Lahukā ca āpatti, garukā ca āpatti.
Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
128
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo.
Katamā dve?
Duṭṭhullā ca āpatti, aduṭṭhullā ca āpatti.
Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
129
“Dvemā, bhikkhave, āpattiyo.
Katamā dve?
Sāvasesā ca āpatti, anavasesā ca āpatti.
Imā kho, bhikkhave, dve āpattiyo”ti.
Āsāduppajahavaggo paṭhamo.