TTC 1Rồi hai vị Thuận thế Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn ấy thưa với Thế Tôn:
TTC 2—Thưa Tôn giả Gotama, Pùrana Kassapa, bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận mình là có tri kiến toàn bộ không dư, nói rằng: “Khi ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến được an trú liên tục thường hằng”. Vị ấy nói như sau: “Với trí vô biên, ta sống, biết và thấy thế giới hữu biên”. Thưa Tôn giả Gotama, Nigantha Nàtaputta, bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận mình là có tri kiến toàn bộ không dư, nói rằng: “Khi ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến được an trú liên tục thường hằng”. Vị ấy nói như sau: “Với trí hữu biên, ta sống, biết và thấy thế giới hữu biên”. Thưa Tôn giả Gotama, giữa hai bậc tuyên bố về trí này, giữa hai lời tuyên bố mâu thuẫn này, ai nói đúng sự thật, ai nói láo?
TTC 3—Thôi vừa rồi, này các Bà-la-môn, hãy dừng lại ở đây: “Giữa hai bậc tuyên bố về trí này, giữa hai lời tuyên bố mâu thuẫn này, ai nói đúng sự thật, ai nói láo?”
Này các Bà-la-môn, Ta sẽ thuyết pháp cho các Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Các Bà-la-môn ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 4—Này các Bà-la-môn, ví như bốn người đàn ông đứng bốn phương, đầy đủ với bước đi, với tốc lực tối thắng, với bước chân dài tối thắng. Họ đầy đủ tốc lực như sau: Ví như một người cầm cung, điêu luyện khéo được huấn luyện với bàn tay thiện xảo, bách phát bách trúng, có thể bắn một cách nhẹ nhàng một mũi tên ngang qua bóng của cây tàla. Như vậy là tốc lực của họ. Còn bước chân dài của họ, thời như sau: từ biển phía Ðông đến biển phía Tây. Rồi người đứng ở phương Ðông nói như sau: “Ta sẽ đi và đạt đến tận cùng của thế giới”. Dầu cho tuổi thọ của người này là một trăm năm, và người ấy sống một trăm năm, và bước đi trong một trăm năm—trừ khi người ấy ăn, người ấy uống, người ấy nhai, người ấy nếm, trừ khi người ấy đi đại tiện tiểu tiện, trừ khi người ấy ngủ để lấy lại sức, người ấy sẽ chết trước khi người ấy đạt đến tận cùng của thế giới”. Rồi người đứng ở phương Tây… rồi người đứng ở phương Bắc… rồi người đứng ở phương Nam nói như sau: “Ta sẽ đi và đạt đến tận cùng của thế giới”. Dầu cho tuổi thọ… người ấy sẽ chết trước khi người ấy đạt đến tận cùng của thế giới”. Vì cớ sao? Này các Bà-la-môn, Ta nói rằng, không phải với sức chạy như vậy, có thể biết được, có thể thấy được, có thể đạt được tận cùng thế giới. Này các Bà-la-môn, Ta nói rằng nếu không đạt được tận cùng thế giới, thời không thể chấm dứt đau khổ ở đời.
TTC 5Này các Bà-la-môn, năm dục trưởng dưởng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh. Thế nào là năm?
TTC 6Các sắc do con mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Này Bà-la-môn, năm dục trưởng dưỡng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh.
TTC 7Ở đây, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly các dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền. Này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo này được gọi là vị đã đến tận cùng thế giới, và sống trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa thoát ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa thoát ly khỏi thế gian”.
TTC 8Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt các tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Thiền thứ tư. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác nói về vị ấy như sau: “Vị này còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 9Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác, nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 10Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ… Sau khi vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ… Sau khi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác, nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 11Lại các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, thời sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Vị này đã vượt khỏi sự triền phược của thế giới.
Atha kho dve lokāyatikā brāhmaṇā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te brāhmaṇā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Pūraṇo, bho gotama, kassapo sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti:
‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti.
So evamāha:
‘ahaṁ anantena ñāṇena anantaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharāmī’ti.
Ayampi, bho gotama, nigaṇṭho nāṭaputto sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti:
‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti.
So evamāha:
‘ahaṁ anantena ñāṇena anantaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharāmī’ti.
Imesaṁ, bho gotama, ubhinnaṁ ñāṇavādānaṁ ubhinnaṁ aññamaññaṁ vipaccanīkavādānaṁ ko saccaṁ āha ko musā”ti?
“Alaṁ, brāhmaṇā.
Tiṭṭhatetaṁ:
‘imesaṁ ubhinnaṁ ñāṇavādānaṁ ubhinnaṁ aññamaññaṁ vipaccanīkavādānaṁ ko saccaṁ āha ko musā’ti.
Dhammaṁ vo, brāhmaṇā, desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho te brāhmaṇā bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, brāhmaṇā, cattāro purisā catuddisā ṭhitā paramena javena ca samannāgatā paramena ca padavītihārena.
Te evarūpena javena samannāgatā assu, seyyathāpi nāma daḷhadhammā dhanuggaho sikkhito katahattho katūpāsano lahukena asanena appakasirena tiriyaṁ tālacchāyaṁ atipāteyya;
evarūpena ca padavītihārena, seyyathāpi nāma puratthimā samuddā pacchimo samuddo
atha puratthimāya disāya ṭhito puriso evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti.
So aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarā kālaṁ kareyya.
Atha pacchimāya disāya …pe…
atha uttarāya disāya …
atha dakkhiṇāya disāya ṭhito puriso evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti.
So aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarā kālaṁ kareyya.
Taṁ kissa hetu?
Nāhaṁ, brāhmaṇā, evarūpāya sandhāvanikāya lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmi.
Na cāhaṁ, brāhmaṇā, appatvāva lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi.
Pañcime, brāhmaṇā, kāmaguṇā ariyassa vinaye lokoti vuccati.
Katame pañca?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā;
sotaviññeyyā saddā …pe…
ghānaviññeyyā gandhā …
jivhāviññeyyā rasā …
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā;
ime kho, brāhmaṇā, pañca kāmaguṇā ariyassa vinaye lokoti vuccati.
Idha, brāhmaṇā, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma, lokassa ante viharati’.
Tamaññe evamāhaṁsu:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …
tatiyaṁ jhānaṁ …
catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’.
Tamaññe evamāhaṁsu:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’.
Tamaññe evamāhaṁsu:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati …pe…
sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati …pe…
sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’.
Tamaññe evamāhaṁsu:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati tiṇṇo loke visattikan’”ti.
Sattamaṁ.
Then two brahman cosmologists went to the Blessed One and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings & courtesies, they sat to one side. As they were sitting there, they said to the Blessed One, “Master Gotama, Purana Kassapa—all-knowing, all-seeing—claims exhaustive knowledge & vision: ‘Whether I am standing or walking, awake or asleep, continual, unflagging knowledge & vision is established within me.’ He says, ‘I dwell with infinite knowledge, knowing & seeing the finite cosmos.’ Yet Nigantha Nataputta—all-knowing, all-seeing—also claims exhaustive knowledge & vision: ‘Whether I am standing or walking, awake or asleep, continual, unflagging knowledge & vision is established within me.’ He says, ‘I dwell with infinite knowledge, knowing & seeing the infinite cosmos.’ Of these two speakers of knowledge, these two who contradict each other, which is telling the truth, and which is lying?”
“Enough, brahmans. Put this question aside. I will teach you the Dhamma. Listen and pay close attention. I will speak.”
“Yes, sir,” the brahmans responded to the Blessed One, and the Blessed One said, ”Suppose that there were four men standing at the four directions, endowed with supreme speed & stride. Like that of a strong archer—well-trained, a practiced hand, a practiced sharp-shooter—shooting a light arrow across the shadow of a palm tree: Such would be the speed with which they were endowed. As far as the east sea is from the west: Such would be the stride with which they were endowed. Then the man standing at the eastern direction would say, ‘I, by walking, will reach the end of the cosmos.’ He—with a one-hundred year life, a one-hundred year span—would spend one hundred years traveling—apart from the time spent on eating, drinking, chewing & tasting, urinating & defecating, and sleeping to fight off weariness—but without reaching the end of the cosmos he would die along the way. [Similarly with the men standing at the western, southern, & northern directions.] Why is that? I tell you, it isn’t through that sort of traveling that the end of the cosmos is known, seen, or reached. But at the same time, I tell you that there is no making an end of suffering & stress without reaching the end of the cosmos.
“These five strings of sensuality are, in the discipline of the noble ones, called the cosmos. Which five? Forms cognizable via the eye—agreeable, pleasing, charming, endearing, fostering desire, enticing; sounds cognizable via the ear… aromas cognizable via the nose… flavors cognizable via the tongue… tactile sensations cognizable via the body—agreeable, pleasing, charming, endearing, fostering desire, enticing. These are the five strings of sensuality that, in the discipline of the noble ones, are called the cosmos.
“There is the case where a monk—quite secluded from sensuality, secluded from unskillful qualities—enters & remains in the first jhāna: rapture & pleasure born of seclusion, accompanied by directed thought & evaluation. This is called a monk who, coming to the end of the cosmos, remains at the end of the cosmos. Others say of him, ‘He is encompassed in the cosmos; he has not escaped from the cosmos.’ And I too say of him, ‘He is encompassed in the cosmos; he has not escaped from the cosmos.’
[Similarly with the second, third, & fourth jhānas, and with the attainment of the dimensions of the infinitude of space, the infinitude of consciousness, nothingness, and neither perception nor non-perception.]
“Furthermore, with the complete transcending of the dimension of neither perception nor non-perception, he enters & remains in the cessation of perception & feeling. And, having seen [that] with discernment, his fermentations are completely ended. This is called a monk who, coming to the end of the cosmos, remains at the end of the cosmos, having crossed over attachment in the cosmos.”
TTC 1Rồi hai vị Thuận thế Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn ấy thưa với Thế Tôn:
TTC 2—Thưa Tôn giả Gotama, Pùrana Kassapa, bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận mình là có tri kiến toàn bộ không dư, nói rằng: “Khi ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến được an trú liên tục thường hằng”. Vị ấy nói như sau: “Với trí vô biên, ta sống, biết và thấy thế giới hữu biên”. Thưa Tôn giả Gotama, Nigantha Nàtaputta, bậc toàn tri, toàn kiến, tự nhận mình là có tri kiến toàn bộ không dư, nói rằng: “Khi ta đi, ta đứng , ta ngủ, ta thức, tri kiến được an trú liên tục thường hằng”. Vị ấy nói như sau: “Với trí hữu biên, ta sống, biết và thấy thế giới hữu biên”. Thưa Tôn giả Gotama, giữa hai bậc tuyên bố về trí này, giữa hai lời tuyên bố mâu thuẫn này, ai nói đúng sự thật, ai nói láo?
TTC 3—Thôi vừa rồi, này các Bà-la-môn, hãy dừng lại ở đây: “Giữa hai bậc tuyên bố về trí này, giữa hai lời tuyên bố mâu thuẫn này, ai nói đúng sự thật, ai nói láo?”
Này các Bà-la-môn, Ta sẽ thuyết pháp cho các Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Các Bà-la-môn ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 4—Này các Bà-la-môn, ví như bốn người đàn ông đứng bốn phương, đầy đủ với bước đi, với tốc lực tối thắng, với bước chân dài tối thắng. Họ đầy đủ tốc lực như sau: Ví như một người cầm cung, điêu luyện khéo được huấn luyện với bàn tay thiện xảo, bách phát bách trúng, có thể bắn một cách nhẹ nhàng một mũi tên ngang qua bóng của cây tàla. Như vậy là tốc lực của họ. Còn bước chân dài của họ, thời như sau: từ biển phía Ðông đến biển phía Tây. Rồi người đứng ở phương Ðông nói như sau: “Ta sẽ đi và đạt đến tận cùng của thế giới”. Dầu cho tuổi thọ của người này là một trăm năm, và người ấy sống một trăm năm, và bước đi trong một trăm năm—trừ khi người ấy ăn, người ấy uống, người ấy nhai, người ấy nếm, trừ khi người ấy đi đại tiện tiểu tiện, trừ khi người ấy ngủ để lấy lại sức, người ấy sẽ chết trước khi người ấy đạt đến tận cùng của thế giới”. Rồi người đứng ở phương Tây… rồi người đứng ở phương Bắc… rồi người đứng ở phương Nam nói như sau: “Ta sẽ đi và đạt đến tận cùng của thế giới”. Dầu cho tuổi thọ… người ấy sẽ chết trước khi người ấy đạt đến tận cùng của thế giới”. Vì cớ sao? Này các Bà-la-môn, Ta nói rằng, không phải với sức chạy như vậy, có thể biết được, có thể thấy được, có thể đạt được tận cùng thế giới. Này các Bà-la-môn, Ta nói rằng nếu không đạt được tận cùng thế giới, thời không thể chấm dứt đau khổ ở đời.
TTC 5Này các Bà-la-môn, năm dục trưởng dưởng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh. Thế nào là năm?
TTC 6Các sắc do con mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Này Bà-la-môn, năm dục trưởng dưỡng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh.
TTC 7Ở đây, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo ly các dục… chứng đạt và an trú sơ Thiền. Này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo này được gọi là vị đã đến tận cùng thế giới, và sống trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa thoát ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa thoát ly khỏi thế gian”.
TTC 8Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo diệt các tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Thiền thứ tư. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác nói về vị ấy như sau: “Vị này còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 9Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua khỏi các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác, nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 10Lại nữa, này các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua khỏi Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ… Sau khi vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ… Sau khi vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Nhưng các người khác, nói về vị ấy như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”. Này các Bà-la-môn, Ta cũng nói như sau: “Vị này vẫn còn bị hạn chế trong thế giới, vị này chưa xuất ly khỏi thế gian”.
TTC 11Lại các Bà-la-môn, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định, thời sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Này các Bà-la-môn, đây gọi là Tỷ-kheo sau khi đến tận cùng thế giới, trú trong tận cùng thế giới. Vị này đã vượt khỏi sự triền phược của thế giới.
Atha kho dve lokāyatikā brāhmaṇā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te brāhmaṇā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Pūraṇo, bho gotama, kassapo sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti:
‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti.
So evamāha:
‘ahaṁ anantena ñāṇena anantaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharāmī’ti.
Ayampi, bho gotama, nigaṇṭho nāṭaputto sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti:
‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti.
So evamāha:
‘ahaṁ anantena ñāṇena anantaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharāmī’ti.
Imesaṁ, bho gotama, ubhinnaṁ ñāṇavādānaṁ ubhinnaṁ aññamaññaṁ vipaccanīkavādānaṁ ko saccaṁ āha ko musā”ti?
“Alaṁ, brāhmaṇā.
Tiṭṭhatetaṁ:
‘imesaṁ ubhinnaṁ ñāṇavādānaṁ ubhinnaṁ aññamaññaṁ vipaccanīkavādānaṁ ko saccaṁ āha ko musā’ti.
Dhammaṁ vo, brāhmaṇā, desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho te brāhmaṇā bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Seyyathāpi, brāhmaṇā, cattāro purisā catuddisā ṭhitā paramena javena ca samannāgatā paramena ca padavītihārena.
Te evarūpena javena samannāgatā assu, seyyathāpi nāma daḷhadhammā dhanuggaho sikkhito katahattho katūpāsano lahukena asanena appakasirena tiriyaṁ tālacchāyaṁ atipāteyya;
evarūpena ca padavītihārena, seyyathāpi nāma puratthimā samuddā pacchimo samuddo
atha puratthimāya disāya ṭhito puriso evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti.
So aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarā kālaṁ kareyya.
Atha pacchimāya disāya …pe…
atha uttarāya disāya …
atha dakkhiṇāya disāya ṭhito puriso evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ gamanena lokassa antaṁ pāpuṇissāmī’ti.
So aññatreva asitapītakhāyitasāyitā aññatra uccārapassāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṁ gantvā appatvāva lokassa antaṁ antarā kālaṁ kareyya.
Taṁ kissa hetu?
Nāhaṁ, brāhmaṇā, evarūpāya sandhāvanikāya lokassa antaṁ ñāteyyaṁ daṭṭheyyaṁ patteyyanti vadāmi.
Na cāhaṁ, brāhmaṇā, appatvāva lokassa antaṁ dukkhassa antakiriyaṁ vadāmi.
Pañcime, brāhmaṇā, kāmaguṇā ariyassa vinaye lokoti vuccati.
Katame pañca?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā;
sotaviññeyyā saddā …pe…
ghānaviññeyyā gandhā …
jivhāviññeyyā rasā …
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā;
ime kho, brāhmaṇā, pañca kāmaguṇā ariyassa vinaye lokoti vuccati.
Idha, brāhmaṇā, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma, lokassa ante viharati’.
Tamaññe evamāhaṁsu:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ …
tatiyaṁ jhānaṁ …
catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’.
Tamaññe evamāhaṁsu:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’.
Tamaññe evamāhaṁsu:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati …pe…
sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati …pe…
sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati’.
Tamaññe evamāhaṁsu:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Ahampi hi, brāhmaṇā, evaṁ vadāmi:
‘ayampi lokapariyāpanno, ayampi anissaṭo lokamhā’ti.
Puna caparaṁ, brāhmaṇā, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Ayaṁ vuccati, brāhmaṇā, ‘bhikkhu lokassa antamāgamma lokassa ante viharati tiṇṇo loke visattikan’”ti.
Sattamaṁ.