TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Tikandaki. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo!
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm và ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với các vật ghê tởm và không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác! Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích gì, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể trú với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm?
TTC 3“Mong rằng, đối với các pháp khả ái, tham chớ có khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm?
TTC 4“Mong rằng đối với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta” Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm, và ghê tởm?
TTC 5“Mong rằng đối với các pháp khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta. Mong rằng đối với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm và ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm?
TTC 6“Mong rằng đối với các pháp đáng được sân hận, lòng sân chớ khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác?
TTC 7“Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào là như thế nào, đối với các pháp đáng được sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp có thể làm cho si mê, lòng si không khởi lên nơi ta!” do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati tikaṇḍakīvane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya sato sampajāno.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya?
‘Mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya?
‘Mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya?
‘Mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādi, mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya?
‘Mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādi, mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya?
‘Sato sampajāno mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ rajanīyesu dhammesu rāgo udapādi, mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ dosanīyesu dhammesu doso udapādi, mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ mohanīyesu dhammesu moho udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya sato sampajāno”ti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was living at Sāketa, in Tikaṇḍakī1 Grove. There the Blessed One addressed the monks: “Monks!” “Auspicious sir,” those monks replied to the Blessed One. The Blessed One said this:
SC 2“Monks, from time to time it is good for a monk to dwell perceiving the non-repulsive as repulsive. Monks, from time to time it is good for a monk to dwell perceiving the repulsive as non-repulsive. Monks, from time to time it is good for a monk to dwell perceiving both non-repulsive and repulsive as repulsive. Monks, from time to time it is good for a monk to dwell perceiving both repulsive and non-repulsive as non-repulsive. Monks, from time to time it is good for a monk to circumvent both repulsive and non-repulsive and dwell equanimous, mindful, and clearly aware.
SC 3“Monks, for what benefit would a monk dwell perceiving the non-repulsive as repulsive? Thinking ‘May lust2 not arise in me about lust-inducing things.’ Monks, this is the benefit for which a monk would dwell perceiving the non-repulsive as repulsive.
SC 4“Monks, for what benefit would a monk dwell perceiving the repulsive as non-repulsive? Thinking ‘May hate not arise in me about hate-inducing things.’ Monks, this is the benefit for which a monk would dwell perceiving the repulsive as non-repulsive.
SC 5“Monks, for what benefit would a monk dwell perceiving both non-repulsive and repulsive as repulsive? Thinking ‘May lust not arise in me about lust-inducing things.’ Monks, this is the benefit for which a monk would dwell perceiving both non-repulsive and repulsive as repulsive.
SC 6“Monks, for what benefit would a monk dwell perceiving both repulsive and non-repulsive as non-repulsive? Thinking ‘May hate not arise in me about hate-inducing things.’ Monks, this is the benefit for which a monk would dwell perceiving both repulsive and non-repulsive as non-repulsive.
SC 7“Monks, for what benefit would a monk circumvent both repulsive and non-repulsive and dwell equanimous, mindful, and clearly aware? Thinking ‘Being mindful and clearly aware, may no lust at all ever arise in me about lust-inducing things, may no hate at all ever arise in me about hate-inducing things, may no delusion at all ever arise in me about delusion-inducing things.’ Monks, this is the benefit for which a monk would circumvent both repulsive and non-repulsive and dwell equanimous, mindful, and clearly aware.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàketa, tại rừng Tikandaki. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo!
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng ghê tởm đối với các vật không ghê tởm và ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thỉnh thoảng sống với tưởng không ghê tởm đối với các vật ghê tởm và không ghê tởm! Lành thay, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác! Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích gì, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thể trú với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm?
TTC 3“Mong rằng, đối với các pháp khả ái, tham chớ có khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm?
TTC 4“Mong rằng đối với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta” Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm, và ghê tởm?
TTC 5“Mong rằng đối với các pháp khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta. Mong rằng đối với các pháp đáng sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng ghê tởm đối với vật không ghê tởm và ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm?
TTC 6“Mong rằng đối với các pháp đáng được sân hận, lòng sân chớ khởi lên nơi ta”. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nên sống với tưởng không ghê tởm đối với vật ghê tởm và không ghê tởm. Và này các Tỷ-kheo, do duyên lợi ích thế nào, Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác?
TTC 7“Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp khả ái, lòng tham chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào là như thế nào, đối với các pháp đáng được sân hận, lòng sân chớ có khởi lên nơi ta! Mong rằng dầu là vật gì, tại chỗ nào và như thế nào, đối với các pháp có thể làm cho si mê, lòng si không khởi lên nơi ta!” do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi từ bỏ cả hai vật không ghê tởm và ghê tởm, trú xả, chánh niệm tỉnh giác.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati tikaṇḍakīvane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya.
Sādhu, bhikkhave, bhikkhu kālena kālaṁ paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya sato sampajāno.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya?
‘Mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya?
‘Mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya?
‘Mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādi, mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya?
‘Mā me dosanīyesu dhammesu doso udapādi, mā me rajanīyesu dhammesu rāgo udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyya.
Kiñca, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya?
‘Sato sampajāno mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ rajanīyesu dhammesu rāgo udapādi, mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ dosanīyesu dhammesu doso udapādi, mā me kvacani katthaci kiñcanaṁ mohanīyesu dhammesu moho udapādī’ti—
idaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu atthavasaṁ paṭicca paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyya sato sampajāno”ti.
Catutthaṁ.