TTC 1(Như kinh (96), đoạn đầu)
TTC 2—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người, mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, thọ trì các pháp đã được nghe, suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; nhưng không phải là người thiện ngôn, khéo nói, dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, khiến cho nghĩa lý được minh bạch; không phải là người thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình, không có lợi người.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi người, không có lợi mình?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không thọ trì các pháp đã được nghe, không suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, không có sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp tùy pháp; là người thiện ngôn, khéo nói, dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác rõ ràng, khiến cho nghĩa lý được minh bạch; là người thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi người, không có lợi mình.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người, không hướng đến lợi mình và lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không có mau mắn nhận xét trong các thiện pháp… không có sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; không phải là người thiện ngôn, khéo nói… làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh. Như vậy này các Tỷ-kheo, là hạng người không hướng đến lợi mình và lợi người.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình và lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người mau mắn nhận xét trong các thiện pháp… sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp. Là người thiện ngôn, khéo nói… làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình và lợi người.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
attahitāya paṭipanno no parahitāya,
parahitāya paṭipanno no attahitāya,
nevattahitāya paṭipanno no parahitāya,
attahitāya ceva paṭipanno parahitāya ca.
Kathañca, bhikkhave, puggalo attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāya?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo khippanisantī ca hoti kusalesu dhammesu, sutānañca dhammānaṁ dhārakajātiko hoti, dhātānañca dhammānaṁ atthūpaparikkhī hoti atthamaññāya dhammamaññāya, dhammānudhammappaṭipanno hoti;
no ca kalyāṇavāco hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā, no ca sandassako hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāya.
Kathañca, bhikkhave, puggalo parahitāya paṭipanno hoti, no attahitāya?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho khippanisantī hoti kusalesu dhammesu, no ca sutānaṁ dhammānaṁ dhārakajātiko hoti, no ca dhātānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhī hoti, no ca atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti;
kalyāṇavāco ca hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā, sandassako ca hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo parahitāya paṭipanno hoti, no attahitāya.
Kathañca, bhikkhave, puggalo nevattahitāya paṭipanno hoti, no parahitāya?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho khippanisantī hoti kusalesu dhammesu, no ca sutānaṁ dhammānaṁ dhārakajātiko hoti, no ca dhātānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhī hoti, no ca atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti;
no ca kalyāṇavāco hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā, no ca sandassako hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo nevattahitāya paṭipanno hoti, no parahitāya.
Kathañca, bhikkhave, puggalo attahitāya ceva paṭipanno hoti parahitāya ca?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo khippanisantī ca hoti kusalesu dhammesu, sutānañca dhammānaṁ dhārakajātiko hoti, dhātānañca dhammānaṁ atthūpaparikkhī hoti atthamaññāya dhammamaññāya, dhammānudhammappaṭipanno hoti;
kalyāṇavāco ca hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā, sandassako ca hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo attahitāya ceva paṭipanno hoti parahitāya ca.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, these four individuals are found in the world.
What four?
One who practices to benefit themselves, but not others;
one who practices to benefit others, but not themselves;
one who practices to benefit neither themselves nor others; and
one who practices to benefit both themselves and others.
And how does an individual practice to benefit themselves, but not others?
It’s when an individual is quick-witted when it comes to skillful teachings. They readily memorize the teachings they’ve heard. They examine the meaning of teachings they’ve memorized. Understanding the meaning and the teaching, they practice in line with the teaching.
But they’re not a good speaker and do not enunciate well. Their voice isn’t polished, clear, articulate, and doesn’t express the meaning. They don’t educate, encourage, fire up, and inspire their spiritual companions.
That’s how an individual practices to benefit themselves, but not others.
And how does an individual practice to benefit others, but not themselves?
It’s when an individual is not quick-witted when it comes to skillful teachings. …
But they’re a good speaker. …
That’s how an individual practices to benefit others, but not themselves.
And how does an individual practice to benefit neither themselves nor others?
It’s when an individual is not quick-witted when it comes to skillful teachings. …
Nor are they a good speaker. …
That’s how an individual practices to benefit neither themselves nor others.
And how does an individual practice to benefit both themselves and others?
It’s when an individual is quick-witted when it comes to skillful teachings. …
And they’re a good speaker. …
That’s how an individual practices to benefit both themselves and others.
These are the four individuals found in the world.”
TTC 1(Như kinh (96), đoạn đầu)
TTC 2—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình, không lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người, mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, thọ trì các pháp đã được nghe, suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; nhưng không phải là người thiện ngôn, khéo nói, dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, khiến cho nghĩa lý được minh bạch; không phải là người thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình, không có lợi người.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi người, không có lợi mình?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không thọ trì các pháp đã được nghe, không suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, không có sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp tùy pháp; là người thiện ngôn, khéo nói, dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác rõ ràng, khiến cho nghĩa lý được minh bạch; là người thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi người, không có lợi mình.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người, không hướng đến lợi mình và lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không có mau mắn nhận xét trong các thiện pháp… không có sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp; không phải là người thiện ngôn, khéo nói… làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh. Như vậy này các Tỷ-kheo, là hạng người không hướng đến lợi mình và lợi người.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi mình và lợi người?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người mau mắn nhận xét trong các thiện pháp… sau khi hiểu nghĩa, hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp. Là người thiện ngôn, khéo nói… làm cho hoan hỷ các vị đồng Phạm hạnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người hướng đến lợi mình và lợi người.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
attahitāya paṭipanno no parahitāya,
parahitāya paṭipanno no attahitāya,
nevattahitāya paṭipanno no parahitāya,
attahitāya ceva paṭipanno parahitāya ca.
Kathañca, bhikkhave, puggalo attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāya?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo khippanisantī ca hoti kusalesu dhammesu, sutānañca dhammānaṁ dhārakajātiko hoti, dhātānañca dhammānaṁ atthūpaparikkhī hoti atthamaññāya dhammamaññāya, dhammānudhammappaṭipanno hoti;
no ca kalyāṇavāco hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā, no ca sandassako hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāya.
Kathañca, bhikkhave, puggalo parahitāya paṭipanno hoti, no attahitāya?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho khippanisantī hoti kusalesu dhammesu, no ca sutānaṁ dhammānaṁ dhārakajātiko hoti, no ca dhātānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhī hoti, no ca atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti;
kalyāṇavāco ca hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā, sandassako ca hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo parahitāya paṭipanno hoti, no attahitāya.
Kathañca, bhikkhave, puggalo nevattahitāya paṭipanno hoti, no parahitāya?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo na heva kho khippanisantī hoti kusalesu dhammesu, no ca sutānaṁ dhammānaṁ dhārakajātiko hoti, no ca dhātānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhī hoti, no ca atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti;
no ca kalyāṇavāco hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā, no ca sandassako hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo nevattahitāya paṭipanno hoti, no parahitāya.
Kathañca, bhikkhave, puggalo attahitāya ceva paṭipanno hoti parahitāya ca?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo khippanisantī ca hoti kusalesu dhammesu, sutānañca dhammānaṁ dhārakajātiko hoti, dhātānañca dhammānaṁ atthūpaparikkhī hoti atthamaññāya dhammamaññāya, dhammānudhammappaṭipanno hoti;
kalyāṇavāco ca hoti kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā, sandassako ca hoti samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo attahitāya ceva paṭipanno hoti parahitāya ca.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Sattamaṁ.