TTC 1Một thời Thế Tôn ở tại Bàranàsi, Isipatana, chỗ Vườn Nai, tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị vua tên là Pacetana. Rồi, này các Tỷ-kheo, vua Pacetana cho gọi người thợ đóng xe:
—“Này người đóng xe, sau sáu tháng, sẽ có trận chiến. Này người đóng xe, ông có thể làm cho ta một cặp bánh xe mới được không?”
—“Thưa Ðại Vương, có thể được”.
Người đóng xe trả lời cho vua Pacetana.
Rồi này các Tỷ-kheo, người đóng xe, sau sáu tháng trừ sáu ngày, làm xong một bánh xe. Rồi vua Pacetana bảo người đóng xe:
—“Sau sáu ngày, này người đóng xe, sẽ có trận chiến. Ðôi bánh xe mới có thể làm xong được không?”
—“Thưa Ðại vương, sau sáu tháng trừ sáu ngày, một bánh xe đã làm xong”.
—“Này người đóng xe, Ông có thể, với sáu ngày (còn lại) này, làm xong bánh xe thứ hai?”
—“Thưa Ðại vương, con có thể làm được”.
Người đóng xe trả lời cho vua Pacetana.
TTC 2—Rồi này các Tỷ-kheo, người đóng xe trong sáu ngày, sau khi làm xong bánh xe thứ hai, cầm cặp bánh xe mới, đi đến vua Pacetana; sau khi đến, thưa với vua Pacetana:
—“Thưa Ðại vương, cặp bánh xe mới này đã làm xong cho Ngài”.
—“Này người đóng xe, cái bánh xe này làm xong trong sáu tháng trừ sáu ngày và cái bánh xe này làm xong trong sáu ngày, có cái gì sai khác giữa hai cái này, ta không thấy có cái gì sai khác hết”.
—“Có sự sai khác giữa hai cái này, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, hãy nhìn sự sai khác”.
Rồi, này các Tỷ-kheo, người đóng xe đẩy cho chạy bánh xe được làm xong trong sáu ngày. Bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại rồi xoay quanh vài vòng và rơi xuống đất. Rồi nó đẩy cho chạy bánh được làm xong trong sáu tháng trừ sáu ngày. Bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi nó đứng lại như đang mắc vào trong trục xe.
TTC 3—“Do nhân gì, này người đóng xe, do duyên gì cái bánh xe được làm trong sáu ngày, tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi xoay quanh vài vòng và rơi xuống đất. Do nhân gì, này Người đóng xe, do duyên gì cái bánh xe được làm trong sáu tháng trừ sáu ngày, tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi nó đứng lại như mắc vào trục xe?”
—“Thưa Ðại vương, cái bánh xe này được làm xong sau sáu ngày, vành xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm; các căm xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm, trục xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm. Vì rằng vành xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm; vì rằng các căm xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm, vì rằng trục xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm nên bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi xoay quanh vài vòng rồi rơi xuống đất. Còn bánh kia, thưa Ðại Vương, được làm xong sau sáu tháng trừ sáu ngày, bánh xe ấy không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm; trục xe ấy không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm. Vì rằng vành xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm; vì rằng các căm xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm, vì rằng trục xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm nên bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, nó đứng lại như đang mắc vào ở trong trục xe.
TTC 4—Rất có thể, này các Tỷ-kheo, các thầy nghĩ rằng trong thời ấy, người đóng xe ấy là một người khác. Này các Tỷ-kheo, chớ có nghĩ như vậy. Trong thời ấy, ta chính là người đóng xe. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, ta khéo léo về chỗ cong của gỗ, về chỗ hỏng của gỗ, về khuyết điểm của gỗ. Nay, này các Tỷ-kheo, ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, khéo léo về chỗ cong của thân, về chỗ hỏng của thân, về khuyết điểm của thân; khéo léo về chỗ cong của lời nói, về chỗ hỏng của lời nói, về khuyết điểm của lời nói; khéo léo về chỗ cong của ý, về chỗ hỏng của ý, về khuyết điểm của ý.
TTC 5—Ðối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, thân cong không có đoạn tận, thân hư hỏng, thân khuyết điểm (không có đoạn tận), lời nói cong không có đoạn tận, lời nói hư hỏng, lời nói khuyết điểm (không có đoạn tận), ý cong không có đoạn tận, ý hư hỏng, ý khuyết điểm (không có đoạn tận), như vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy rời khỏi pháp luật này, ví như bánh xe ấy được làm xong sau sáu ngày.
Ðối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, thân cong được đoạn tận, thân hư hỏng, thân khuyết điểm (được đoạn tận), lời nói cong … ý cong được đoạn tận, ý hư hỏng, ý khuyết điểm (được đoạn tận), như vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy an trú trong pháp luật này, ví như bánh xe ấy được làm xong sau sáu tháng trừ sáu ngày.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng tôi sẽ đoạn tận thân cong, thân hư hỏng, thân khuyết điểm, chúng tôi sẽ đoạn tận lời nói cong, lời nói hư hỏng, lời nói khuyết điểm, chúng tôi sẽ đoạn tận ý cong, ý hư hỏng, ý khuyết điểm”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, rājā ahosi sacetano nāma.
Atha kho, bhikkhave, rājā sacetano rathakāraṁ āmantesi:
‘ito me, samma rathakāra, channaṁ māsānaṁ accayena saṅgāmo bhavissati.
Sakkhissasi me, samma rathakāra, navaṁ cakkayugaṁ kātun’ti?
‘Sakkomi, devā’ti kho, bhikkhave, rathakāro rañño sacetanassa paccassosi.
Atha kho, bhikkhave, rathakāro chahi māsehi chārattūnehi ekaṁ cakkaṁ niṭṭhāpesi.
Atha kho, bhikkhave, rājā sacetano rathakāraṁ āmantesi:
‘ito me, samma rathakāra, channaṁ divasānaṁ accayena saṅgāmo bhavissati, niṭṭhitaṁ navaṁ cakkayugan’ti?
‘Imehi kho, deva, chahi māsehi chārattūnehi ekaṁ cakkaṁ niṭṭhitan’ti.
‘Sakkhissasi pana me, samma rathakāra, imehi chahi divasehi dutiyaṁ cakkaṁ niṭṭhāpetun’ti?
‘Sakkomi, devā’ti kho, bhikkhave, rathakāro chahi divasehi dutiyaṁ cakkaṁ niṭṭhāpetvā navaṁ cakkayugaṁ ādāya yena rājā sacetano tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ sacetanaṁ etadavoca:
‘idaṁ te, deva, navaṁ cakkayugaṁ niṭṭhitan’ti.
‘Yañca te idaṁ, samma rathakāra, cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi yañca te idaṁ cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ, imesaṁ kiṁ nānākaraṇaṁ?
Nesāhaṁ kiñci nānākaraṇaṁ passāmī’ti.
‘Atthesaṁ, deva, nānākaraṇaṁ.
Passatu devo nānākaraṇan’ti.
Atha kho, bhikkhave, rathakāro yaṁ taṁ cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ taṁ pavattesi.
Taṁ pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā ciṅgulāyitvā bhūmiyaṁ papati.
Yaṁ pana taṁ cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi taṁ pavattesi.
Taṁ pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsi.
‘Ko nu kho, samma rathakāra, hetu ko paccayo yamidaṁ cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ taṁ pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā ciṅgulāyitvā bhūmiyaṁ papati?
Ko pana, samma rathakāra, hetu ko paccayo yamidaṁ cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi taṁ pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsī’ti?
‘Yamidaṁ, deva, cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ tassa nemipi savaṅkā sadosā sakasāvā, arāpi savaṅkā sadosā sakasāvā, nābhipi savaṅkā sadosā sakasāvā.
Taṁ nemiyāpi savaṅkattā sadosattā sakasāvattā, arānampi savaṅkattā sadosattā sakasāvattā, nābhiyāpi savaṅkattā sadosattā sakasāvattā pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā ciṅgulāyitvā bhūmiyaṁ papati.
Yaṁ pana taṁ, deva, cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi tassa nemipi avaṅkā adosā akasāvā, arāpi avaṅkā adosā akasāvā, nābhipi avaṅkā adosā akasāvā.
Taṁ nemiyāpi avaṅkattā adosattā akasāvattā, arānampi avaṅkattā adosattā akasāvattā, nābhiyāpi avaṅkattā adosattā akasāvattā pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsī’ti.
Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa:
‘añño nūna tena samayena so rathakāro ahosī’ti.
Na kho panetaṁ, bhikkhave, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Ahaṁ tena samayena so rathakāro ahosiṁ.
Tadāhaṁ, bhikkhave, kusalo dāruvaṅkānaṁ dārudosānaṁ dārukasāvānaṁ.
Etarahi kho panāhaṁ, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho kusalo kāyavaṅkānaṁ kāyadosānaṁ kāyakasāvānaṁ, kusalo vacīvaṅkānaṁ vacīdosānaṁ vacīkasāvānaṁ, kusalo manovaṅkānaṁ manodosānaṁ manokasāvānaṁ.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā kāyavaṅko appahīno kāyadoso kāyakasāvo, vacīvaṅko appahīno vacīdoso vacīkasāvo, manovaṅko appahīno manodoso manokasāvo, evaṁ papatitā te, bhikkhave, imasmā dhammavinayā, seyyathāpi taṁ cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā kāyavaṅko pahīno kāyadoso kāyakasāvo, vacīvaṅko pahīno vacīdoso vacīkasāvo, manovaṅko pahīno manodoso manokasāvo, evaṁ patiṭṭhitā te, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye, seyyathāpi taṁ cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kāyavaṅkaṁ pajahissāma kāyadosaṁ kāyakasāvaṁ, vacīvaṅkaṁ pajahissāma vacīdosaṁ vacīkasāvaṁ, manovaṅkaṁ pajahissāma manodosaṁ manokasāvan’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Bārāṇasī in the deer park at Isipatana. There the Blessed One addressed the bhikkhus: “Bhikkhus!” an.i.111
SC 2“Venerable sir!” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“Bhikkhus, in the past there was a king named Pacetana. Then King Pacetana addressed a chariotmaker: ‘Friend chariotmaker, six months from now there will be a battle. Can you make me a new pair of wheels?’—‘I can, lord,’ the chariotmaker replied. After six months less six days the chariotmaker had finished one wheel. King Pacetana then addressed the chariotmaker: ‘Six days from now there will be a battle. Is the new pair of wheels finished?’ The chariotmaker replied: ‘In the past six months less six days, lord, I have finished one wheel.’—‘But, friend chariotmaker, can you finish a second wheel for me in the next six days?’—‘I can, lord,’ the chariotmaker replied. Then, over the next six days, the chariotmaker finished the second wheel. He brought the new pair of wheels to King Pacetana and said: ‘This is the new pair of wheels that I have made for you, lord.’—‘What is the difference, friend chariotmaker, between the wheel that took six months less six days to complete and the one that took six days to complete? I do not see any difference between them.’—‘There is a difference, lord. Observe the difference.’
SC 4“Then the chariotmaker rolled the wheel that took six days to finish. It rolled as far as the impetus carried it, and then it wobbled and fell to the ground. But the wheel that took six months an.i.112 less six days to finish rolled as far as the impetus carried it and then stood still as if fixed on an axle.
SC 5“The king asked: ‘Why is it, friend chariotmaker, that the wheel that took six days to finish rolled as far as the impetus carried it, and then wobbled and fell to the ground, while the wheel that took six months less six days to finish rolled as far as the impetus carried it and then stood still as if fixed on an axle?’
SC 6“The chariotmaker replied: ‘The wheel that took six days to finish, lord, has a rim that is crooked, faulty, and defective; spokes that are crooked, faulty, and defective; and a nave that is crooked, faulty, and defective. For this reason, it rolled as far as the impetus carried it and then it wobbled and fell to the ground. But the wheel that took six months less six days to finish has a rim without crookedness, faults, and defects; it has spokes without crookedness, faults, and defects; and it has a nave that is without crookedness, faults, and defects. For this reason, it rolled as far as the impetus carried it and then stood still as if fixed on an axle.’
SC 7“It may be, bhikkhus, that you think: ‘On that occasion the chariotmaker was someone else.’ But you should not think in such a way. On that occasion, I myself was the chariotmaker. Then I was skilled in crookedness, faults, and defects in wood. But now I am the Arahant, the Perfectly Enlightened One, (1) skilled in crookedness, faults, and defects of the body; (2) skilled in crookedness, faults, and defects of speech; and (3) skilled in crookedness, faults, and defects of mind.
SC 8“Any bhikkhu or bhikkhunī who has not abandoned crookedness, faults, and defects of the body, speech, and mind an.i.113 has fallen down from this Dhamma and discipline, just as the wheel that was finished in six days fell to the ground.
SC 9“Any bhikkhu or bhikkhunī who has abandoned crookedness, faults, and defects of the body, speech, and mind is established in this Dhamma and discipline, just as the wheel that was finished in six months less six days remained standing.
SC 10“Therefore, bhikkhus, you should train yourselves thus: ‘We will abandon crookedness, faults, and defects of the body; we will abandon crookedness, faults, and defects of speech; we will abandon crookedness, faults, and defects of the mind.’ It is in this way that you should train yourselves.”
TTC 1Một thời Thế Tôn ở tại Bàranàsi, Isipatana, chỗ Vườn Nai, tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
—Bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị vua tên là Pacetana. Rồi, này các Tỷ-kheo, vua Pacetana cho gọi người thợ đóng xe:
—“Này người đóng xe, sau sáu tháng, sẽ có trận chiến. Này người đóng xe, ông có thể làm cho ta một cặp bánh xe mới được không?”
—“Thưa Ðại Vương, có thể được”.
Người đóng xe trả lời cho vua Pacetana.
Rồi này các Tỷ-kheo, người đóng xe, sau sáu tháng trừ sáu ngày, làm xong một bánh xe. Rồi vua Pacetana bảo người đóng xe:
—“Sau sáu ngày, này người đóng xe, sẽ có trận chiến. Ðôi bánh xe mới có thể làm xong được không?”
—“Thưa Ðại vương, sau sáu tháng trừ sáu ngày, một bánh xe đã làm xong”.
—“Này người đóng xe, Ông có thể, với sáu ngày (còn lại) này, làm xong bánh xe thứ hai?”
—“Thưa Ðại vương, con có thể làm được”.
Người đóng xe trả lời cho vua Pacetana.
TTC 2—Rồi này các Tỷ-kheo, người đóng xe trong sáu ngày, sau khi làm xong bánh xe thứ hai, cầm cặp bánh xe mới, đi đến vua Pacetana; sau khi đến, thưa với vua Pacetana:
—“Thưa Ðại vương, cặp bánh xe mới này đã làm xong cho Ngài”.
—“Này người đóng xe, cái bánh xe này làm xong trong sáu tháng trừ sáu ngày và cái bánh xe này làm xong trong sáu ngày, có cái gì sai khác giữa hai cái này, ta không thấy có cái gì sai khác hết”.
—“Có sự sai khác giữa hai cái này, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, hãy nhìn sự sai khác”.
Rồi, này các Tỷ-kheo, người đóng xe đẩy cho chạy bánh xe được làm xong trong sáu ngày. Bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại rồi xoay quanh vài vòng và rơi xuống đất. Rồi nó đẩy cho chạy bánh được làm xong trong sáu tháng trừ sáu ngày. Bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi nó đứng lại như đang mắc vào trong trục xe.
TTC 3—“Do nhân gì, này người đóng xe, do duyên gì cái bánh xe được làm trong sáu ngày, tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi xoay quanh vài vòng và rơi xuống đất. Do nhân gì, này Người đóng xe, do duyên gì cái bánh xe được làm trong sáu tháng trừ sáu ngày, tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi nó đứng lại như mắc vào trục xe?”
—“Thưa Ðại vương, cái bánh xe này được làm xong sau sáu ngày, vành xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm; các căm xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm, trục xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm. Vì rằng vành xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm; vì rằng các căm xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm, vì rằng trục xe bị cong, có chỗ hỏng, có khuyết điểm nên bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, rồi xoay quanh vài vòng rồi rơi xuống đất. Còn bánh kia, thưa Ðại Vương, được làm xong sau sáu tháng trừ sáu ngày, bánh xe ấy không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm; trục xe ấy không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm. Vì rằng vành xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm; vì rằng các căm xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm, vì rằng trục xe không bị cong, không có chỗ hỏng, không có khuyết điểm nên bánh xe ấy tiếp tục chạy cho đến khi sức đẩy (ban đầu) còn tồn tại, nó đứng lại như đang mắc vào ở trong trục xe.
TTC 4—Rất có thể, này các Tỷ-kheo, các thầy nghĩ rằng trong thời ấy, người đóng xe ấy là một người khác. Này các Tỷ-kheo, chớ có nghĩ như vậy. Trong thời ấy, ta chính là người đóng xe. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, ta khéo léo về chỗ cong của gỗ, về chỗ hỏng của gỗ, về khuyết điểm của gỗ. Nay, này các Tỷ-kheo, ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, khéo léo về chỗ cong của thân, về chỗ hỏng của thân, về khuyết điểm của thân; khéo léo về chỗ cong của lời nói, về chỗ hỏng của lời nói, về khuyết điểm của lời nói; khéo léo về chỗ cong của ý, về chỗ hỏng của ý, về khuyết điểm của ý.
TTC 5—Ðối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, thân cong không có đoạn tận, thân hư hỏng, thân khuyết điểm (không có đoạn tận), lời nói cong không có đoạn tận, lời nói hư hỏng, lời nói khuyết điểm (không có đoạn tận), ý cong không có đoạn tận, ý hư hỏng, ý khuyết điểm (không có đoạn tận), như vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy rời khỏi pháp luật này, ví như bánh xe ấy được làm xong sau sáu ngày.
Ðối với các Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo ni nào, thân cong được đoạn tận, thân hư hỏng, thân khuyết điểm (được đoạn tận), lời nói cong … ý cong được đoạn tận, ý hư hỏng, ý khuyết điểm (được đoạn tận), như vậy, này các Tỷ-kheo, vị ấy an trú trong pháp luật này, ví như bánh xe ấy được làm xong sau sáu tháng trừ sáu ngày.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: “Chúng tôi sẽ đoạn tận thân cong, thân hư hỏng, thân khuyết điểm, chúng tôi sẽ đoạn tận lời nói cong, lời nói hư hỏng, lời nói khuyết điểm, chúng tôi sẽ đoạn tận ý cong, ý hư hỏng, ý khuyết điểm”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, rājā ahosi sacetano nāma.
Atha kho, bhikkhave, rājā sacetano rathakāraṁ āmantesi:
‘ito me, samma rathakāra, channaṁ māsānaṁ accayena saṅgāmo bhavissati.
Sakkhissasi me, samma rathakāra, navaṁ cakkayugaṁ kātun’ti?
‘Sakkomi, devā’ti kho, bhikkhave, rathakāro rañño sacetanassa paccassosi.
Atha kho, bhikkhave, rathakāro chahi māsehi chārattūnehi ekaṁ cakkaṁ niṭṭhāpesi.
Atha kho, bhikkhave, rājā sacetano rathakāraṁ āmantesi:
‘ito me, samma rathakāra, channaṁ divasānaṁ accayena saṅgāmo bhavissati, niṭṭhitaṁ navaṁ cakkayugan’ti?
‘Imehi kho, deva, chahi māsehi chārattūnehi ekaṁ cakkaṁ niṭṭhitan’ti.
‘Sakkhissasi pana me, samma rathakāra, imehi chahi divasehi dutiyaṁ cakkaṁ niṭṭhāpetun’ti?
‘Sakkomi, devā’ti kho, bhikkhave, rathakāro chahi divasehi dutiyaṁ cakkaṁ niṭṭhāpetvā navaṁ cakkayugaṁ ādāya yena rājā sacetano tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ sacetanaṁ etadavoca:
‘idaṁ te, deva, navaṁ cakkayugaṁ niṭṭhitan’ti.
‘Yañca te idaṁ, samma rathakāra, cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi yañca te idaṁ cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ, imesaṁ kiṁ nānākaraṇaṁ?
Nesāhaṁ kiñci nānākaraṇaṁ passāmī’ti.
‘Atthesaṁ, deva, nānākaraṇaṁ.
Passatu devo nānākaraṇan’ti.
Atha kho, bhikkhave, rathakāro yaṁ taṁ cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ taṁ pavattesi.
Taṁ pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā ciṅgulāyitvā bhūmiyaṁ papati.
Yaṁ pana taṁ cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi taṁ pavattesi.
Taṁ pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsi.
‘Ko nu kho, samma rathakāra, hetu ko paccayo yamidaṁ cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ taṁ pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā ciṅgulāyitvā bhūmiyaṁ papati?
Ko pana, samma rathakāra, hetu ko paccayo yamidaṁ cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi taṁ pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsī’ti?
‘Yamidaṁ, deva, cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ tassa nemipi savaṅkā sadosā sakasāvā, arāpi savaṅkā sadosā sakasāvā, nābhipi savaṅkā sadosā sakasāvā.
Taṁ nemiyāpi savaṅkattā sadosattā sakasāvattā, arānampi savaṅkattā sadosattā sakasāvattā, nābhiyāpi savaṅkattā sadosattā sakasāvattā pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā ciṅgulāyitvā bhūmiyaṁ papati.
Yaṁ pana taṁ, deva, cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi tassa nemipi avaṅkā adosā akasāvā, arāpi avaṅkā adosā akasāvā, nābhipi avaṅkā adosā akasāvā.
Taṁ nemiyāpi avaṅkattā adosattā akasāvattā, arānampi avaṅkattā adosattā akasāvattā, nābhiyāpi avaṅkattā adosattā akasāvattā pavattitaṁ samānaṁ yāvatikā abhisaṅkhārassa gati tāvatikaṁ gantvā akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsī’ti.
Siyā kho pana, bhikkhave, tumhākaṁ evamassa:
‘añño nūna tena samayena so rathakāro ahosī’ti.
Na kho panetaṁ, bhikkhave, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Ahaṁ tena samayena so rathakāro ahosiṁ.
Tadāhaṁ, bhikkhave, kusalo dāruvaṅkānaṁ dārudosānaṁ dārukasāvānaṁ.
Etarahi kho panāhaṁ, bhikkhave, arahaṁ sammāsambuddho kusalo kāyavaṅkānaṁ kāyadosānaṁ kāyakasāvānaṁ, kusalo vacīvaṅkānaṁ vacīdosānaṁ vacīkasāvānaṁ, kusalo manovaṅkānaṁ manodosānaṁ manokasāvānaṁ.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā kāyavaṅko appahīno kāyadoso kāyakasāvo, vacīvaṅko appahīno vacīdoso vacīkasāvo, manovaṅko appahīno manodoso manokasāvo, evaṁ papatitā te, bhikkhave, imasmā dhammavinayā, seyyathāpi taṁ cakkaṁ chahi divasehi niṭṭhitaṁ.
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā kāyavaṅko pahīno kāyadoso kāyakasāvo, vacīvaṅko pahīno vacīdoso vacīkasāvo, manovaṅko pahīno manodoso manokasāvo, evaṁ patiṭṭhitā te, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye, seyyathāpi taṁ cakkaṁ chahi māsehi niṭṭhitaṁ chārattūnehi.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘kāyavaṅkaṁ pajahissāma kāyadosaṁ kāyakasāvaṁ, vacīvaṅkaṁ pajahissāma vacīdosaṁ vacīkasāvaṁ, manovaṅkaṁ pajahissāma manodosaṁ manokasāvan’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Pañcamaṁ.