TTC 1Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú giữa dân chúng Cetì, tại Sahajati. Tại đây, Tôn giả Mahàcunda bảo các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền Tỷ-kheo!
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:
TTC 2—Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo là hạng khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, tôi xuất ly sơ Thiền. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ hai. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ ba. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ tư. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Không vô biên xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thức vô biên xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Vô sở hữu xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định.” Như Lai hay đệ tử Như Lai là bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy khi bị Như Lai hay đệ tử Như Lai là những bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trống không, rơi vào rối ren, rơi vào bế tắc, rơi vào bất hạnh, rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, với tâm của mình tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ nhất… tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định.” Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm mình rõ biết tâm người ấy như sau: “Ðã lâu rồi, Tôn giả này có những hành động phá nát, có những hành động bể vụn, có những hành động chấm đen, có những hành động uế nhiễm, có những hành động không phù hợp, có những tập quán không phù hợp trong các giới luật. Phá giới là Tôn giả này, và phá giới có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Không có lòng tin là Tôn giả này, và không có lòng tin, nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Nghe ít là Tôn giả này, theo tà hạnh, học ít nghĩa là tổn giảm trong Pháp Luật do Như Lai thuyết giảng. Khó nói là Tôn giả này, và tánh khó nói… do Như Lai thuyết giảng. Bạn bè với ác là Tôn giả này, và tánh bạn bè với ác… biếng nhác là Tôn giả này, và tánh biếng nhác… thất niệm là do Tôn giả này, và tánh thất niệm… do Như Lai thuyết giảng. Gian xảo là Tôn giả này, và tánh gian xảo… khó nuôi dưỡng là Tôn giả này, và tánh khó nuôi dưỡng… ác tuệ là Tôn giả này, và tánh ác tuệ có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.”
TTC 3Ví như, này chư Hiền, một người bạn nói với người của mình: “Này Bạn, khi nào Bạn cần đến tài sản, hãy xin tôi tài sản và tôi sẽ cho Bạn tài sản.” Người bạn kia khi cần đến tài sản liền nói với người bạn như sau: “Này Bạn, nay tôi cần đến tài sản, hãy cho tôi tài sản”. Vị ấy trả lời như sau: “Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Này Bạn, Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi.” “Hãy đào ở đây”. Vị ấy nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng với Bạn. Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Này Bạn, Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi”. “Hãy đào ở đây”. Vị ấy nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng. Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi”. “Hãy đào ở đây”. Vị kia nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng với Bạn nhưng tôi bị điên loạn, tâm tôi bị đảo lộn. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo là hạng khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, Tôi xuất ly sơ Thiền…Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Thiền thứ tư… Không vô biên xứ…Thức vô biên xứ… vô sở hữu xứ… Phi tưởng phi phi tưởng xứ… Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định”. Như Lai hay đệ tử Như Lai là bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy, khi bị Như Lai hay đệ tử Như Lai là những bậc hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trống không, rơi vào rối ren, rơi vào bế tắc, rơi vào bất hạnh, rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những bậc hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm của người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này khoa trương, khoe khoang, những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập và xuất ly sơ Thiền… tôi chứng nhập và xuất ly Diệt thọ tưởng định”. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác như sau: “Ðã lâu rồi, Tôn giả này có những hành động phá nát, có những hành động bể vụn, có những hành động chấm đen, có những hành động uế nhiễm, có những hành động không phù hợp, có những tập quán không phù hợp trong các giới. Phá giới là Tôn giả này, và phá giới có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Không có lòng tin là Tôn giả này và tánh không có lòng tin… nghe ít là Tôn giả này và tánh nghe ít… khó nói là Tôn giả này, và tánh khó nói… bạn bè với ác là Tôn giả này và tánh làm bạn với ác…biếng nhác là Tôn giả này, và tánh biếng nhác….. thất niệm là Tôn giả này và tánh thất niệm… gian xảo là Tôn giả này và tánh gian xảo… khó nuôi dưỡng là Tôn giả này và tánh khó nuôi dưỡng… Ác tuệ là Tôn giả này và tánh ác tuệ là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.”
TTC 4Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, không đoạn tận mười pháp này sẽ tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, sau khi đoạn tận mười pháp này, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahācundo cetīsu viharati sahajātiyaṁ.
Tatra kho āyasmā mahācundo bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahācundassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahācundo etadavoca:
“Idhāvuso, bhikkhu katthī hoti vikatthī adhigamesu:
‘ahaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ tatiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ catutthaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ ākāsānañcāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ viññāṇañcāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo samanuyuñjati samanuggāhati samanubhāsati.
So tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā jhāyinā samāpattikusalena paracittakusalena paracittapariyāyakusalena samanuyuñjiyamāno samanuggāhiyamāno samanubhāsiyamāno irīṇaṁ āpajjati vicinaṁ āpajjati anayaṁ āpajjati byasanaṁ āpajjati anayabyasanaṁ āpajjati.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca manasi karoti:
‘kiṁ nu kho ayamāyasmā katthī hoti vikatthī adhigamesu—
ahaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi …pe…
ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca pajānāti:
‘Dīgharattaṁ kho ayamāyasmā khaṇḍakārī chiddakārī sabalakārī kammāsakārī na santatakārī na santatavutti sīlesu.
Dussīlo kho ayamāyasmā.
Dussilyaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Assaddho kho pana ayamāyasmā;
assaddhiyaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Appassuto kho pana ayamāyasmā anācāro;
appasaccaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Dubbaco kho pana ayamāyasmā;
dovacassatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Pāpamitto kho pana ayamāyasmā;
pāpamittatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Kusīto kho pana ayamāyasmā;
kosajjaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Muṭṭhassati kho pana ayamāyasmā;
muṭṭhassaccaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Kuhako kho pana ayamāyasmā;
kohaññaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Dubbharo kho pana ayamāyasmā;
dubbharatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Duppañño kho pana ayamāyasmā;
duppaññatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ’.
Seyyathāpi, āvuso, sahāyako sahāyakaṁ evaṁ vadeyya:
‘yadā te, samma, dhanena dhanakaraṇīyaṁ assa, yāceyyāsi maṁ dhanaṁ. Dassāmi te dhanan’ti.
So kiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne sahāyako sahāyakaṁ evaṁ vadeyya: ‘attho me, samma, dhanena. Dehi me dhanan’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘tena hi, samma, idha khanāhī’ti. So tatra khananto nādhigaccheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘alikaṁ maṁ, samma, avaca; tucchakaṁ maṁ, samma, avaca—idha khanāhī’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘nāhaṁ taṁ, samma, alikaṁ avacaṁ, tucchakaṁ avacaṁ. Tena hi, samma, idha khanāhī’ti.
So tatrapi khananto nādhigaccheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘alikaṁ maṁ, samma, avaca, tucchakaṁ maṁ, samma, avaca—idha khanāhī’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘nāhaṁ taṁ, samma, alikaṁ avacaṁ, tucchakaṁ avacaṁ. Tena hi, samma, idha khanāhī’ti.
So tatrapi khananto nādhigaccheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘alikaṁ maṁ, samma, avaca, tucchakaṁ maṁ, samma, avaca—idha khanāhī’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘nāhaṁ taṁ, samma, alikaṁ avacaṁ, tucchakaṁ avacaṁ. Api ca ahameva ummādaṁ pāpuṇiṁ cetaso vipariyāyan’ti.
Evamevaṁ kho, āvuso, bhikkhu katthī hoti vikatthī adhigamesu:
‘ahaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ tatiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ catutthaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ ākāsānañcāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ viññāṇañcāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo samanuyuñjati samanuggāhati samanubhāsati.
So tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā jhāyinā samāpattikusalena paracittakusalena paracittapariyāyakusalena samanuyuñjiyamāno samanuggāhiyamāno samanubhāsiyamāno irīṇaṁ āpajjati vicinaṁ āpajjati anayaṁ āpajjati byasanaṁ āpajjati anayabyasanaṁ āpajjati.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca manasi karoti:
‘kiṁ nu kho ayamāyasmā katthī hoti vikatthī adhigamesu—
ahaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi …pe…
ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittapariyāyakusalo cetasā ceto paricca pajānāti:
‘Dīgharattaṁ kho ayamāyasmā khaṇḍakārī chiddakārī sabalakārī kammāsakārī, na santatakārī na santatavutti sīlesu.
Dussīlo kho ayamāyasmā;
dussilyaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Assaddho kho pana ayamāyasmā;
assaddhiyaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Appassuto kho pana ayamāyasmā anācāro;
appasaccaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Dubbaco kho pana ayamāyasmā;
dovacassatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Pāpamitto kho pana ayamāyasmā;
pāpamittatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Kusīto kho pana ayamāyasmā;
kosajjaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Muṭṭhassati kho pana ayamāyasmā;
muṭṭhassaccaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Kuhako kho pana ayamāyasmā;
kohaññaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Dubbharo kho pana ayamāyasmā;
dubbharatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Duppañño kho pana ayamāyasmā;
duppaññatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ’.
So vatāvuso, bhikkhu ‘ime dasa dhamme appahāya imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatī’ti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vatāvuso, bhikkhu ‘ime dasa dhamme pahāya imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatī’ti ṭhānametaṁ vijjatī”ti.
Pañcamaṁ.
At one time Venerable Mahācunda was staying in the land of the Cetīs at Sahajāti.
There he addressed the mendicants:
“Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied.
Venerable Mahācunda said this:
“Take a mendicant who boasts and brags about their achievements:
‘I enter and emerge from the first absorption, the second absorption, the third absorption, and the fourth absorption. And I enter and emerge from the dimensions of infinite space, infinite consciousness, nothingness, and neither perception nor non-perception. And I enter and emerge from the cessation of perception and feeling.’
They’re pursued, pressed, and grilled by the Realized One, or by one of his disciples who has the absorptions, and is skilled in attainments, in the minds of others, and in encompassing another’s mind.
Grilled in this way they get stuck or lose their way. They fall to ruin and disaster.
The Realized One or one of his disciples encompasses their mind and investigates:
‘Why does this venerable boast and brag about their achievements, saying,
“I enter and emerge from the first absorption …
and the cessation of perception and feeling.”’
They understand,
‘For a long time this venerable’s deeds have been broken, tainted, spotty, and marred. Their deeds and behavior are inconsistent.
This venerable is unethical,
and unethical conduct means decline in the teaching and training proclaimed by the Realized One.
This venerable is unfaithful,
and lack of faith means decline …
This venerable is unlearned and unpracticed,
and lack of learning means decline …
This venerable is hard to admonish,
and being hard to admonish means decline …
This venerable has bad friends,
and bad friends mean decline …
This venerable is lazy,
and laziness means decline …
This venerable is unmindful,
and unmindfulness means decline …
This venerable is deceptive,
and deceitfulness means decline …
This venerable is burdensome,
and being burdensome means decline …
This venerable is witless,
and lack of wisdom means decline in the teaching and training proclaimed by the Realized One.’
Suppose one friend was to say to another:
‘My dear, when you need money for some payment, just ask me and I’ll give it.’
Then when some payment falls due, that friend says to their friend: ‘I need some money, my dear. Give me some.’
They’d say:
‘Well then, my dear, dig here.’ So they dig there, but don’t find anything.
They’d say:
‘You lied to me, my dear, you spoke hollow words when you told me to dig here.’
They’d say:
‘My dear, I didn’t lie or speak hollow words. Well then, dig here.’
So they dig there as well, but don’t find anything.
They’d say:
‘You lied to me, my dear, you spoke hollow words when you said dig here.’
They’d say:
‘My dear, I didn’t lie or speak hollow words. Well then, dig here.’
So they dig there as well, but don’t find anything.
They’d say:
‘You lied to me, my dear, you spoke hollow words when you said dig here.’
They’d say:
‘My dear, I didn’t lie or speak hollow words. But I had gone mad, I was out of my mind.’
In the same way, take a mendicant who boasts and brags about their achievements:
‘I enter and emerge from the first absorption … and the cessation of perception and feeling.’
They’re pursued, pressed, and grilled by the Realized One, or by one of his disciples …
Grilled in this way they get stuck or lose their way. They fall to ruin and disaster.
The Realized One or one of his disciples encompasses their mind and investigates:
‘Why does this venerable boast and brag about their achievements, saying,
“I enter and emerge from the first absorption …
and the cessation of perception and feeling.”’
They understand,
‘For a long time this venerable’s deeds have been broken, tainted, spotty, and marred. Their deeds and behavior are inconsistent.
This venerable is unethical,
and unethical conduct means decline in the teaching and training proclaimed by the Realized One.
This venerable is unfaithful …
unlearned and unpracticed …
hard to admonish …
with bad friends …
lazy …
unmindful …
deceptive …
burdensome …
This venerable is witless,
and lack of wisdom means decline in the teaching and training proclaimed by the Realized One.’
It is quite impossible for a mendicant to achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training without giving up these ten qualities.
It is quite possible for a mendicant to achieve growth, improvement, or maturity in this teaching and training after giving up these ten qualities.”
TTC 1Một thời, Tôn giả Mahàcunda trú giữa dân chúng Cetì, tại Sahajati. Tại đây, Tôn giả Mahàcunda bảo các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền Tỷ-kheo!
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahàcunda. Tôn giả Mahàcunda nói như sau:
TTC 2—Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo là hạng khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, tôi xuất ly sơ Thiền. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ hai. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ ba. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ tư. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Không vô biên xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thức vô biên xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Vô sở hữu xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định.” Như Lai hay đệ tử Như Lai là bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy khi bị Như Lai hay đệ tử Như Lai là những bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trống không, rơi vào rối ren, rơi vào bế tắc, rơi vào bất hạnh, rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, với tâm của mình tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Thiền thứ nhất… tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định.” Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm mình rõ biết tâm người ấy như sau: “Ðã lâu rồi, Tôn giả này có những hành động phá nát, có những hành động bể vụn, có những hành động chấm đen, có những hành động uế nhiễm, có những hành động không phù hợp, có những tập quán không phù hợp trong các giới luật. Phá giới là Tôn giả này, và phá giới có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Không có lòng tin là Tôn giả này, và không có lòng tin, nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Nghe ít là Tôn giả này, theo tà hạnh, học ít nghĩa là tổn giảm trong Pháp Luật do Như Lai thuyết giảng. Khó nói là Tôn giả này, và tánh khó nói… do Như Lai thuyết giảng. Bạn bè với ác là Tôn giả này, và tánh bạn bè với ác… biếng nhác là Tôn giả này, và tánh biếng nhác… thất niệm là do Tôn giả này, và tánh thất niệm… do Như Lai thuyết giảng. Gian xảo là Tôn giả này, và tánh gian xảo… khó nuôi dưỡng là Tôn giả này, và tánh khó nuôi dưỡng… ác tuệ là Tôn giả này, và tánh ác tuệ có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.”
TTC 3Ví như, này chư Hiền, một người bạn nói với người của mình: “Này Bạn, khi nào Bạn cần đến tài sản, hãy xin tôi tài sản và tôi sẽ cho Bạn tài sản.” Người bạn kia khi cần đến tài sản liền nói với người bạn như sau: “Này Bạn, nay tôi cần đến tài sản, hãy cho tôi tài sản”. Vị ấy trả lời như sau: “Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Này Bạn, Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi.” “Hãy đào ở đây”. Vị ấy nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng với Bạn. Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Này Bạn, Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi”. “Hãy đào ở đây”. Vị ấy nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng. Vậy này Bạn, hãy đào ở đây”. Vị kia tại đấy đào lên và không tìm được gì. Vị kia nói: “Này Bạn, Bạn đã nói láo với tôi. Bạn đã nói những lời trống rỗng với tôi”. “Hãy đào ở đây”. Vị kia nói: “Này Bạn, tôi không nói láo với Bạn. Tôi không nói những lời trống rỗng với Bạn nhưng tôi bị điên loạn, tâm tôi bị đảo lộn. Cũng vậy, này chư Hiền, Tỷ-kheo là hạng khoe khoang, khoa trương những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập, Tôi xuất ly sơ Thiền…Thiền thứ hai… Thiền thứ ba… Thiền thứ tư… Không vô biên xứ…Thức vô biên xứ… vô sở hữu xứ… Phi tưởng phi phi tưởng xứ… Tôi chứng nhập, tôi xuất ly Diệt thọ tưởng định”. Như Lai hay đệ tử Như Lai là bậc hành thiền, thiện xảo trong thiền chứng, thiện xảo trong tâm người khác, thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận. Vị ấy, khi bị Như Lai hay đệ tử Như Lai là những bậc hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thẩm vấn, gạn hỏi, thảo luận, rơi vào trống không, rơi vào rối ren, rơi vào bế tắc, rơi vào bất hạnh, rơi vào bế tắc và bất hạnh. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những bậc hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm của người khác, với tâm của mình, tác ý đến tâm của người ấy như sau: “Như thế nào, Tôn giả này khoa trương, khoe khoang, những chứng đắc của mình: “Tôi chứng nhập và xuất ly sơ Thiền… tôi chứng nhập và xuất ly Diệt thọ tưởng định”. Như Lai hay đệ tử Như Lai, những vị hành thiền… thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác như sau: “Ðã lâu rồi, Tôn giả này có những hành động phá nát, có những hành động bể vụn, có những hành động chấm đen, có những hành động uế nhiễm, có những hành động không phù hợp, có những tập quán không phù hợp trong các giới. Phá giới là Tôn giả này, và phá giới có nghĩa là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng. Không có lòng tin là Tôn giả này và tánh không có lòng tin… nghe ít là Tôn giả này và tánh nghe ít… khó nói là Tôn giả này, và tánh khó nói… bạn bè với ác là Tôn giả này và tánh làm bạn với ác…biếng nhác là Tôn giả này, và tánh biếng nhác….. thất niệm là Tôn giả này và tánh thất niệm… gian xảo là Tôn giả này và tánh gian xảo… khó nuôi dưỡng là Tôn giả này và tánh khó nuôi dưỡng… Ác tuệ là Tôn giả này và tánh ác tuệ là tổn giảm trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng.”
TTC 4Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, không đoạn tận mười pháp này sẽ tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này không xảy ra. Tỷ-kheo ấy, này chư Hiền, sau khi đoạn tận mười pháp này, sẽ được tăng trưởng, lớn mạnh, lớn rộng trong Pháp và Luật này, sự kiện này có xảy ra.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahācundo cetīsu viharati sahajātiyaṁ.
Tatra kho āyasmā mahācundo bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahācundassa paccassosuṁ.
Āyasmā mahācundo etadavoca:
“Idhāvuso, bhikkhu katthī hoti vikatthī adhigamesu:
‘ahaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ tatiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ catutthaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ ākāsānañcāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ viññāṇañcāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo samanuyuñjati samanuggāhati samanubhāsati.
So tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā jhāyinā samāpattikusalena paracittakusalena paracittapariyāyakusalena samanuyuñjiyamāno samanuggāhiyamāno samanubhāsiyamāno irīṇaṁ āpajjati vicinaṁ āpajjati anayaṁ āpajjati byasanaṁ āpajjati anayabyasanaṁ āpajjati.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca manasi karoti:
‘kiṁ nu kho ayamāyasmā katthī hoti vikatthī adhigamesu—
ahaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi …pe…
ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca pajānāti:
‘Dīgharattaṁ kho ayamāyasmā khaṇḍakārī chiddakārī sabalakārī kammāsakārī na santatakārī na santatavutti sīlesu.
Dussīlo kho ayamāyasmā.
Dussilyaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Assaddho kho pana ayamāyasmā;
assaddhiyaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Appassuto kho pana ayamāyasmā anācāro;
appasaccaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Dubbaco kho pana ayamāyasmā;
dovacassatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Pāpamitto kho pana ayamāyasmā;
pāpamittatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Kusīto kho pana ayamāyasmā;
kosajjaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Muṭṭhassati kho pana ayamāyasmā;
muṭṭhassaccaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Kuhako kho pana ayamāyasmā;
kohaññaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Dubbharo kho pana ayamāyasmā;
dubbharatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Duppañño kho pana ayamāyasmā;
duppaññatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ’.
Seyyathāpi, āvuso, sahāyako sahāyakaṁ evaṁ vadeyya:
‘yadā te, samma, dhanena dhanakaraṇīyaṁ assa, yāceyyāsi maṁ dhanaṁ. Dassāmi te dhanan’ti.
So kiñcideva dhanakaraṇīye samuppanne sahāyako sahāyakaṁ evaṁ vadeyya: ‘attho me, samma, dhanena. Dehi me dhanan’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘tena hi, samma, idha khanāhī’ti. So tatra khananto nādhigaccheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘alikaṁ maṁ, samma, avaca; tucchakaṁ maṁ, samma, avaca—idha khanāhī’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘nāhaṁ taṁ, samma, alikaṁ avacaṁ, tucchakaṁ avacaṁ. Tena hi, samma, idha khanāhī’ti.
So tatrapi khananto nādhigaccheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘alikaṁ maṁ, samma, avaca, tucchakaṁ maṁ, samma, avaca—idha khanāhī’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘nāhaṁ taṁ, samma, alikaṁ avacaṁ, tucchakaṁ avacaṁ. Tena hi, samma, idha khanāhī’ti.
So tatrapi khananto nādhigaccheyya.
So evaṁ vadeyya:
‘alikaṁ maṁ, samma, avaca, tucchakaṁ maṁ, samma, avaca—idha khanāhī’ti.
So evaṁ vadeyya:
‘nāhaṁ taṁ, samma, alikaṁ avacaṁ, tucchakaṁ avacaṁ. Api ca ahameva ummādaṁ pāpuṇiṁ cetaso vipariyāyan’ti.
Evamevaṁ kho, āvuso, bhikkhu katthī hoti vikatthī adhigamesu:
‘ahaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ dutiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ tatiyaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ catutthaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ ākāsānañcāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ viññāṇañcāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipi, ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo samanuyuñjati samanuggāhati samanubhāsati.
So tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā jhāyinā samāpattikusalena paracittakusalena paracittapariyāyakusalena samanuyuñjiyamāno samanuggāhiyamāno samanubhāsiyamāno irīṇaṁ āpajjati vicinaṁ āpajjati anayaṁ āpajjati byasanaṁ āpajjati anayabyasanaṁ āpajjati.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittakusalo paracittapariyāyakusalo evaṁ cetasā ceto paricca manasi karoti:
‘kiṁ nu kho ayamāyasmā katthī hoti vikatthī adhigamesu—
ahaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajjāmipi …pe…
ahaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpajjāmipi vuṭṭhahāmipī’ti.
Tamenaṁ tathāgato vā tathāgatasāvako vā jhāyī samāpattikusalo paracittapariyāyakusalo cetasā ceto paricca pajānāti:
‘Dīgharattaṁ kho ayamāyasmā khaṇḍakārī chiddakārī sabalakārī kammāsakārī, na santatakārī na santatavutti sīlesu.
Dussīlo kho ayamāyasmā;
dussilyaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Assaddho kho pana ayamāyasmā;
assaddhiyaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Appassuto kho pana ayamāyasmā anācāro;
appasaccaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Dubbaco kho pana ayamāyasmā;
dovacassatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Pāpamitto kho pana ayamāyasmā;
pāpamittatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Kusīto kho pana ayamāyasmā;
kosajjaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Muṭṭhassati kho pana ayamāyasmā;
muṭṭhassaccaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Kuhako kho pana ayamāyasmā;
kohaññaṁ kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Dubbharo kho pana ayamāyasmā;
dubbharatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ.
Duppañño kho pana ayamāyasmā;
duppaññatā kho pana tathāgatappavedite dhammavinaye parihānametaṁ’.
So vatāvuso, bhikkhu ‘ime dasa dhamme appahāya imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatī’ti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
So vatāvuso, bhikkhu ‘ime dasa dhamme pahāya imasmiṁ dhammavinaye vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissatī’ti ṭhānametaṁ vijjatī”ti.
Pañcamaṁ.