TTC 1—Thấy được sáu lợi ích, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?
TTC 2Trong tất cả thế giới, tôi sẽ không dự phần vào trong ấy; cái gì tạo ra cái “tôi” trong tôi sẽ được chận đứng; cái gì tạo ra cái “của tôi” trong tôi sẽ được chận đứng; tôi sẽ thành tựu trí; không cùng chia sẻ với người khác; nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được tôi khéo thấy.
Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành.
“Cha, bhikkhave, ānisaṁse sampassamānena alameva bhikkhunā sabbadhammesu anodhiṁ karitvā anattasaññaṁ upaṭṭhāpetuṁ.
Katame cha?
Sabbaloke ca atammayo bhavissāmi, ahaṅkārā ca me uparujjhissanti, mamaṅkārā ca me uparujjhissanti, asādhāraṇena ca ñāṇena samannāgato bhavissāmi, hetu ca me sudiṭṭho bhavissati, hetusamuppannā ca dhammā.
Ime kho, bhikkhave, cha ānisaṁse sampassamānena alameva bhikkhunā sabbadhammesu anodhiṁ karitvā anattasaññaṁ upaṭṭhāpetun”ti.
Navamaṁ.
“In seeing six rewards, it’s enough motivation for a monk to establish the perception of not-self with regard to all phenomena without exception. Which six? ‘I won’t be fashioned in connection with any world. My I-making will be stopped. My my-making will be stopped. I’ll be endowed with uncommon knowledge. I’ll become one who rightly sees cause, along with causally-originated phenomena.’
“In seeing these six rewards, it’s enough motivation for a monk to establish the perception of not-self with regard to all phenomena without exception.”
TTC 1—Thấy được sáu lợi ích, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành. Thế nào là sáu?
TTC 2Trong tất cả thế giới, tôi sẽ không dự phần vào trong ấy; cái gì tạo ra cái “tôi” trong tôi sẽ được chận đứng; cái gì tạo ra cái “của tôi” trong tôi sẽ được chận đứng; tôi sẽ thành tựu trí; không cùng chia sẻ với người khác; nguyên nhân và các pháp do nhân sanh được tôi khéo thấy.
Thấy được sáu lợi ích này, này các Tỷ-kheo, thật là vừa đủ để Tỷ-kheo làm cho an trú tưởng vô ngã không có hạn chế trong tất cả hành.
“Cha, bhikkhave, ānisaṁse sampassamānena alameva bhikkhunā sabbadhammesu anodhiṁ karitvā anattasaññaṁ upaṭṭhāpetuṁ.
Katame cha?
Sabbaloke ca atammayo bhavissāmi, ahaṅkārā ca me uparujjhissanti, mamaṅkārā ca me uparujjhissanti, asādhāraṇena ca ñāṇena samannāgato bhavissāmi, hetu ca me sudiṭṭho bhavissati, hetusamuppannā ca dhammā.
Ime kho, bhikkhave, cha ānisaṁse sampassamānena alameva bhikkhunā sabbadhammesu anodhiṁ karitvā anattasaññaṁ upaṭṭhāpetun”ti.
Navamaṁ.