TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Vesàlì, tại rừng Ambapàli. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Núi chúa Sineru, này các Tỷ-kheo, dài 84 ngàn do tuần, rộng 84 ngàn do tuần, chìm xuống biển lớn 84 ngàn do tuần, nổi lên trên biển lớn 84 ngàn do tuần. Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, trời không mưa. Khi không có mưa, các loài chủng tử, các loài thực vật, các rừng rậm dược thảo đều khô héo cằn cỗi không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các cành. Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ hai hiện ra.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ hai có mặt, thời tất cả sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, khô kiệt, không có tồn tại, như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ ba hiện ra.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sống Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần… Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước các biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người. Ví như này các Tỷ-kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, nước biển lớn chỉ bằng độ ngón tay. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ sáu hiện ra.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Ví như, này các Tỷ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ bảy hiện ra.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chứa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống. Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi quả đất lớn này và núi chứa Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ai là người có thể nghĩ rằng, ai là người có thể tin rằng: “Quả đất này và núi chứa Sineru sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, sẽ không còn tồn tại nữa”, trừ những người đã được chứng kiến.
TTC 9Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo Sư Sunetta thuộc ngoại đạo, được ly tham trong các dục. Này các Tỷ-kheo, Ðạo Sư Sunetta có hàng trăm người đệ tử. Ðao Sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới. Và tất cả những ai nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời thuyết dạy của Sunetta, về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú Phạm thiên giới. Những ai không nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời dạy của Sunetta, sau khi thân hoại mạng chung, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa Tự tại, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa Lạc thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Ðâu-suất thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Dạ-ma thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Thiên giới Ba mươi ba, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Sát-đế-lỵ, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Bà-la-môn, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình gia chủ.
TTC 10Rồi này các Tỷ-kheo, Ðạo Sư Sunetta suy nghĩ như sau: “Thật không xứng đáng cho ta trong đời sau lại có một sanh thú giống như sanh thú của các đệ tử. Vậy ta hãy tu tập tối thượng từ bi”. Rồi này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư Sunetta trong bảy năm tu tập từ tâm. Sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy năm thành kiếp hoại kiếp, vị ấy không trở lui lại thế giới này. Trong kiếp thành của thế giới, này các Tỷ-kheo, vị ấy đi đến thế giới của Abhassara (Quang Âm thiên). Trong kiếp hoại của thế giới, vị ấy được sanh trong Phạm cung trống không. Tại đấy này các Tỷ-kheo, vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, bậc chiến thắng, bậc vô năng, bậc biến tri, bậc tự tại. Ba mươi sáu lần, này các Tỷ-kheo, vị ấy là Thiên chủ Sakka. Nhiều lần bảy lần, vị ấy là vị Chuyển luân Thánh vương theo Chánh pháp, là vị pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, là những bậc anh hùng, dũng mãnh, đánh tan địch quân. Và vị ấy chiến thắng quả đất này xa cho đến hải biên, trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng dao, đúng với Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ðạo sư Sunetta ấy, dầu cho thọ mạng lâu dài như vậy, sống lâu dài như vậy, nhưng không được thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng vị ấy chưa giải thoát khỏi khổ. Vì cớ sao? Vì rằng vị ấy chưa giác ngộ, chưa thể nhập bốn pháp. Thế nào là bốn?
TTC 11Này các Tỷ-kheo, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh định; vì không giác ngộ, không thể chấp Thánh trí tuệ, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giải thoát. Này các Tỷ-kheo, sự kiện là như sau: Khi Thánh giới được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh trí tuệ được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập, cắt đứt là hữu ái; sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, nay không có tái sanh.
Thế Tôn nói như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vô thượng giới và định,
Trí tuệ và giải thoát,
Gotama danh tiếng,
Giác ngộ những pháp này.
Ðức Phật với thắng trí,
Thuyết pháp cho Tỷ-kheo,
Bậc Ðạo sư đoạn khổ,
Bậc Pháp nhãn tịch tịnh.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati ambapālivane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Aniccā, bhikkhave, saṅkhārā;
adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā;
anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā.
Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ alaṁ virajjituṁ alaṁ vimuccituṁ.
Sineru, bhikkhave, pabbatarājā caturāsītiyojanasahassāni āyāmena, caturāsītiyojanasahassāni vitthārena, caturāsītiyojanasahassāni mahāsamudde ajjhogāḷho, caturāsītiyojanasahassāni mahāsamuddā accuggato.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni devo na vassati.
Deve kho pana, bhikkhave, avassante ye kecime bījagāmabhūtagāmā osadhitiṇavanappatayo te ussussanti visussanti, na bhavanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā;
evaṁ adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena dutiyo sūriyo pātubhavati.
Dutiyassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yā kāci kunnadiyo kusobbhā tā ussussanti visussanti, na bhavanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena tatiyo sūriyo pātubhavati.
Tatiyassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—
gaṅgā, yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī, tā ussussanti visussanti, na bhavanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena catuttho sūriyo pātubhavati.
Catutthassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ye te mahāsarā yato imā mahānadiyo pavattanti, seyyathidaṁ—
anotattā, sīhapapātā, rathakārā, kaṇṇamuṇḍā, kuṇālā, chaddantā, mandākiniyā, tā ussussanti visussanti, na bhavanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena pañcamo sūriyo pātubhavati.
Pañcamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti, dviyojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti, tiyojanasatikānipi, catuyojanasatikānipi, pañcayojanasatikānipi, chayojanasatikānipi, sattayojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti;
sattatālampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti, chatālampi, pañcatālampi, catutālampi, titālampi, dvitālampi, tālamattampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti;
sattaporisampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti, chaporisampi, pañcaporisampi, catuporisampi, tiporisampi, dviporisampi, porisampi, aḍḍhaporisampi, kaṭimattampi, jaṇṇukāmattampi, gopphakamattampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti.
Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye thullaphusitake deve vassante tattha tattha gopadesu udakāni ṭhitāni honti;
evamevaṁ kho, bhikkhave, tattha tattha gopphakamattāni mahāsamudde udakāni ṭhitāni honti.
Pañcamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā aṅgulipabbamattampi mahāsamudde udakaṁ na hoti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena chaṭṭho sūriyo pātubhavati.
Chaṭṭhassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ayañca mahāpathavī sineru ca pabbatarājā dhūmāyanti sandhūmāyanti sampadhūmāyanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, kumbhakārapāko ālepito paṭhamaṁ dhūmeti sandhūmeti sampadhūmeti;
evamevaṁ kho, bhikkhave, chaṭṭhassa sūriyassa pātubhāvā ayañca mahāpathavī sineru ca pabbatarājā dhūmāyanti sandhūmāyanti sampadhūmāyanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena sattamo sūriyo pātubhavati.
Sattamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ayañca mahāpathavī sineru ca pabbatarājā ādippanti pajjalanti ekajālā bhavanti.
Imissā ca, bhikkhave, mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ acci vātena khittā yāva brahmalokāpi gacchati.
Sinerussa, bhikkhave, pabbatarājassa jhāyamānassa dayhamānassa vinassamānassa mahatā tejokhandhena abhibhūtassa yojanasatikānipi kūṭāni palujjanti dviyojanasatikānipi, tiyojanasatikānipi, catuyojanasatikānipi, pañcayojanasatikānipi kūṭāni palujjanti.
Imissā ca, bhikkhave, mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ neva chārikā paññāyati na masi.
Seyyathāpi, bhikkhave, sappissa vā telassa vā jhāyamānassa dayhamānassa neva chārikā paññāyati na masi;
evamevaṁ kho, bhikkhave, imissā ca mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ neva chārikā paññāyati na masi.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā;
evaṁ adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā;
evaṁ anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā.
Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ alaṁ virajjituṁ alaṁ vimuccituṁ.
Tatra, bhikkhave, ko mantā ko saddhātā:
‘ayañca pathavī sineru ca pabbatarājā dayhissanti vinassissanti, na bhavissantī’ti aññatra diṭṭhapadehi?
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sunetto nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo.
Sunettassa kho pana, bhikkhave, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ.
Sunetto, bhikkhave, satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi.
Ye kho pana, bhikkhave, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa sabbena sabbaṁ sāsanaṁ ājāniṁsu te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ brahmalokaṁ upapajjiṁsu.
Ye na sabbena sabbaṁ sāsanaṁ ājāniṁsu te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā appekacce paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce khattiyamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce brāhmaṇamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce gahapatimahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu.
Atha kho, bhikkhave, sunettassa satthuno etadahosi:
‘na kho metaṁ patirūpaṁ yohaṁ sāvakānaṁ samasamagatiyo assaṁ abhisamparāyaṁ, yannūnāhaṁ uttari mettaṁ bhāveyyan’ti.
Atha kho, bhikkhave, sunetto satthā satta vassāni mettaṁ cittaṁ bhāvesi.
Satta vassāni mettaṁ cittaṁ bhāvetvā satta saṁvaṭṭavivaṭṭakappe nayimaṁ lokaṁ punarāgamāsi.
Saṁvaṭṭamāne sudaṁ, bhikkhave, loke ābhassarūpago hoti.
Vivaṭṭamāne loke suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjati.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, brahmā hoti mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī.
Chattiṁsakkhattuṁ kho pana, bhikkhave, sakko ahosi devānamindo.
Anekasatakkhattuṁ rājā ahosi cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Parosahassaṁ kho panassa puttā ahesuṁ sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasi.
So hi nāma, bhikkhave, sunetto satthā evaṁ dīghāyuko samāno evaṁ ciraṭṭhitiko aparimutto ahosi:
jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘aparimutto dukkhasmā’ti vadāmi.
Taṁ kissa hetu?
Catunnaṁ dhammānaṁ ananubodhā appaṭivedhā.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Ariyassa, bhikkhave, sīlassa ananubodhā appaṭivedhā, ariyassa samādhissa ananubodhā appaṭivedhā, ariyāya paññāya ananubodhā appaṭivedhā, ariyāya vimuttiyā ananubodhā appaṭivedhā.
Tayidaṁ, bhikkhave, ariyaṁ sīlaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ariyo samādhi anubodho paṭividdho, ariyā paññā anubodhā paṭividdhā, ariyā vimutti anubodhā paṭividdhā, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Sīlaṁ samādhi paññā ca,
vimutti ca anuttarā;
Anubuddhā ime dhammā,
gotamena yasassinā.
Iti buddho abhiññāya,
dhammamakkhāsi bhikkhunaṁ;
Dukkhassantakaro satthā,
cakkhumā parinibbuto”ti.
Dutiyaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, in Ambapālī’s Mango Grove.
There the Buddha addressed the mendicants,
“Mendicants!”
“Venerable sir,” they replied.
The Buddha said this:
“Mendicants, conditions are impermanent.
Conditions are unstable.
Conditions are unreliable.
This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
Sineru, the king of mountains, is 84,000 leagues long and 84,000 leagues wide. It sinks 84,000 leagues below the ocean and rises 84,000 leagues above it.
There comes a time when, after a very long period has passed—many years, many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands of years—the heavens fail to rain.
When this happens, the plants and seeds, the herbs, grass, and big trees wither away and dry up, and are no more.
So impermanent are conditions,
so unstable, so unreliable.
This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
There comes a time when, after a very long period has passed, a second sun appears.
When this happens, the streams and pools wither away and dry up, and are no more.
So impermanent are conditions …
There comes a time when, after a very long period has passed, a third sun appears.
When this happens, the great rivers—
the Ganges, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—wither away and dry up, and are no more.
So impermanent are conditions …
There comes a time when, after a very long period has passed, a fourth sun appears.
When this happens, the great lakes from which the rivers originate—
the Anotattā, Sīhapapātā, Rathakārā, Kaṇṇamuṇḍā, Kuṇālā, Chaddantā, and Mandākinī—wither away and dry up, and are no more.
So impermanent are conditions …
There comes a time when, after a very long period has passed, a fifth sun appears.
When this happens, the water in the ocean sinks by a hundred leagues. It sinks by two, three, four, five, six, or even seven hundred leagues.
The water that remains in the ocean is only seven palm trees deep. It’s six, five, four, three, two, or even one palm tree deep.
The water that remains in the ocean is only seven fathoms deep. It’s six, five, four, three, two, one or even half a fathom deep. It’s waist high, knee high, or even ankle high.
It’s like in autumn, when the heavens rain heavily and water remains here and there in the cows’ hoofprints.
In the same way, water in the ocean remains here and there in puddles like cows’ hoofprints.
When the fifth sun appears there’s not even enough water left in the great ocean for the tip of the toe.
So impermanent are conditions …
There comes a time when, after a very long period has passed, a sixth sun appears.
When this happens, this great earth and Sineru the king of mountains smoke and smolder and give off fumes.
It’s like when a potter’s kiln is first kindled, and it smokes and smolders and gives off fumes.
In the same way, this great earth and Sineru the king of mountains smoke and smolder and give off fumes.
So impermanent are conditions …
There comes a time when, after a very long period has passed, a seventh sun appears.
When this happens, this great earth and Sineru the king of mountains erupt in one burning mass of fire.
And as they blaze and burn the flames are swept by the wind as far as the realm of divinity.
Sineru the king of mountains blazes and burns, crumbling as it’s overcome by the great fire. And meanwhile, mountain peaks a hundred leagues high, or two, three, four, or five hundred leagues high disintegrate as they burn.
And when the great earth and Sineru the king of mountains blaze and burn, no soot or ash is found.
It’s like when ghee or oil blaze and burn, and neither ashes nor soot are found.
In the same way, when the great earth and Sineru the king of mountains blaze and burn, no soot or ash is found.
So impermanent are conditions,
so unstable are conditions,
so unreliable are conditions.
This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
Mendicants, who would ever think or believe that
this earth and Sineru, king of mountains, will burn and crumble and be no more, except for one who has seen the truth?
Once upon a time, there was a teacher named Sunetta. He was a religious founder and was free of desire for sensual pleasures.
He had many hundreds of disciples.
He taught them the path to rebirth in the company of Divinity.
Those who totally understood Sunetta’s teachings were—when their body broke up, after death—reborn in a good place, the company of Divinity.
Of those who didn’t totally understand Sunetta’s teachings, some—when their body broke up, after death—were reborn in the company of the gods who control what is created by others. Some were reborn in the company of the gods who love to create, some with the joyful gods, some with the gods of Yama, some with the gods of the thirty-three, and some with the gods of the four great kings. Some were reborn in the company of well-to-do aristocrats or brahmins or householders.
Then the teacher Sunetta thought:
‘It’s not proper for me to be reborn in the next life in exactly the same place as my disciples. Why don’t I further develop love?’
Then Sunetta developed love for seven years.
Having done so he did not return to this world for seven eons of cosmic expansion and contraction.
As the cosmos contracted he went to the realm of streaming radiance.
As it expanded he was reborn in an empty mansion of divinity.
There he was the Divinity, the Great Divinity, the vanquisher, the unvanquished, the universal seer, the wielder of power.
He was Sakka, lord of gods, thirty-six times.
Many hundreds of times he was a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion extended to all four sides, he achieved stability in the country, and he possessed the seven treasures.
He had over a thousand sons who were valiant and heroic, crushing the armies of his enemies.
After conquering this land girt by sea, he reigned by principle, without rod or sword.
Yet even though Sunetta lived so long, he was not free from
rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. He was not free from suffering, I say.
Why is that?
Because of not understanding and not penetrating four things.
What four?
Noble ethics, immersion, wisdom, and freedom.
These noble ethics, immersion, wisdom, and freedom have been understood and penetrated. Craving for continued existence has been cut off; the leash to existence is ended; now there’ll be no more future lives.”
That is what the Buddha said.
Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“Ethics, immersion, and wisdom,
and the supreme freedom:
these things have been understood
by Gotama the renowned.
And so the Buddha, having insight,
explained this teaching to the mendicants.
The Teacher has made an end of suffering;
seeing clearly, he is quenched.”
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Vesàlì, tại rừng Ambapàli. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Núi chúa Sineru, này các Tỷ-kheo, dài 84 ngàn do tuần, rộng 84 ngàn do tuần, chìm xuống biển lớn 84 ngàn do tuần, nổi lên trên biển lớn 84 ngàn do tuần. Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, trời không mưa. Khi không có mưa, các loài chủng tử, các loài thực vật, các rừng rậm dược thảo đều khô héo cằn cỗi không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các cành. Này các Tỷ-kheo, rồi có thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ hai hiện ra.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ hai có mặt, thời tất cả sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, khô kiệt, không có tồn tại, như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ ba hiện ra.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sống Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ tư hiện ra.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần… Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước các biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người. Ví như này các Tỷ-kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia. Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, nước biển lớn chỉ bằng độ ngón tay. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ sáu hiện ra.
TTC 7Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Ví như, này các Tỷ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỷ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ bảy hiện ra.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chứa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống. Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi quả đất lớn này và núi chứa Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỷ-kheo, các hành là không kiên cố. Này các Tỷ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Ở đây, này các Tỷ-kheo, ai là người có thể nghĩ rằng, ai là người có thể tin rằng: “Quả đất này và núi chứa Sineru sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, sẽ không còn tồn tại nữa”, trừ những người đã được chứng kiến.
TTC 9Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo Sư Sunetta thuộc ngoại đạo, được ly tham trong các dục. Này các Tỷ-kheo, Ðạo Sư Sunetta có hàng trăm người đệ tử. Ðao Sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới. Và tất cả những ai nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời thuyết dạy của Sunetta, về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú Phạm thiên giới. Những ai không nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời dạy của Sunetta, sau khi thân hoại mạng chung, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Tha hóa Tự tại, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Hóa Lạc thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Ðâu-suất thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Dạ-ma thiên, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Thiên giới Ba mươi ba, một số được sanh cọng trú với chư Thiên ở Bốn Thiên vương, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Sát-đế-lỵ, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình Bà-la-môn, một số được sanh cọng trú với các đại gia đình gia chủ.
TTC 10Rồi này các Tỷ-kheo, Ðạo Sư Sunetta suy nghĩ như sau: “Thật không xứng đáng cho ta trong đời sau lại có một sanh thú giống như sanh thú của các đệ tử. Vậy ta hãy tu tập tối thượng từ bi”. Rồi này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư Sunetta trong bảy năm tu tập từ tâm. Sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy năm thành kiếp hoại kiếp, vị ấy không trở lui lại thế giới này. Trong kiếp thành của thế giới, này các Tỷ-kheo, vị ấy đi đến thế giới của Abhassara (Quang Âm thiên). Trong kiếp hoại của thế giới, vị ấy được sanh trong Phạm cung trống không. Tại đấy này các Tỷ-kheo, vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, bậc chiến thắng, bậc vô năng, bậc biến tri, bậc tự tại. Ba mươi sáu lần, này các Tỷ-kheo, vị ấy là Thiên chủ Sakka. Nhiều lần bảy lần, vị ấy là vị Chuyển luân Thánh vương theo Chánh pháp, là vị pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, là những bậc anh hùng, dũng mãnh, đánh tan địch quân. Và vị ấy chiến thắng quả đất này xa cho đến hải biên, trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng dao, đúng với Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ðạo sư Sunetta ấy, dầu cho thọ mạng lâu dài như vậy, sống lâu dài như vậy, nhưng không được thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng vị ấy chưa giải thoát khỏi khổ. Vì cớ sao? Vì rằng vị ấy chưa giác ngộ, chưa thể nhập bốn pháp. Thế nào là bốn?
TTC 11Này các Tỷ-kheo, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh định; vì không giác ngộ, không thể chấp Thánh trí tuệ, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giải thoát. Này các Tỷ-kheo, sự kiện là như sau: Khi Thánh giới được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh trí tuệ được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập, cắt đứt là hữu ái; sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, nay không có tái sanh.
Thế Tôn nói như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vô thượng giới và định,
Trí tuệ và giải thoát,
Gotama danh tiếng,
Giác ngộ những pháp này.
Ðức Phật với thắng trí,
Thuyết pháp cho Tỷ-kheo,
Bậc Ðạo sư đoạn khổ,
Bậc Pháp nhãn tịch tịnh.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati ambapālivane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Aniccā, bhikkhave, saṅkhārā;
adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā;
anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā.
Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ alaṁ virajjituṁ alaṁ vimuccituṁ.
Sineru, bhikkhave, pabbatarājā caturāsītiyojanasahassāni āyāmena, caturāsītiyojanasahassāni vitthārena, caturāsītiyojanasahassāni mahāsamudde ajjhogāḷho, caturāsītiyojanasahassāni mahāsamuddā accuggato.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena bahūni vassāni bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni devo na vassati.
Deve kho pana, bhikkhave, avassante ye kecime bījagāmabhūtagāmā osadhitiṇavanappatayo te ussussanti visussanti, na bhavanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā;
evaṁ adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena dutiyo sūriyo pātubhavati.
Dutiyassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yā kāci kunnadiyo kusobbhā tā ussussanti visussanti, na bhavanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena tatiyo sūriyo pātubhavati.
Tatiyassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yā kāci mahānadiyo, seyyathidaṁ—
gaṅgā, yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī, tā ussussanti visussanti, na bhavanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena catuttho sūriyo pātubhavati.
Catutthassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ye te mahāsarā yato imā mahānadiyo pavattanti, seyyathidaṁ—
anotattā, sīhapapātā, rathakārā, kaṇṇamuṇḍā, kuṇālā, chaddantā, mandākiniyā, tā ussussanti visussanti, na bhavanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena pañcamo sūriyo pātubhavati.
Pañcamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā yojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti, dviyojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti, tiyojanasatikānipi, catuyojanasatikānipi, pañcayojanasatikānipi, chayojanasatikānipi, sattayojanasatikānipi mahāsamudde udakāni ogacchanti;
sattatālampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti, chatālampi, pañcatālampi, catutālampi, titālampi, dvitālampi, tālamattampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti;
sattaporisampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti, chaporisampi, pañcaporisampi, catuporisampi, tiporisampi, dviporisampi, porisampi, aḍḍhaporisampi, kaṭimattampi, jaṇṇukāmattampi, gopphakamattampi mahāsamudde udakaṁ saṇṭhāti.
Seyyathāpi, bhikkhave, saradasamaye thullaphusitake deve vassante tattha tattha gopadesu udakāni ṭhitāni honti;
evamevaṁ kho, bhikkhave, tattha tattha gopphakamattāni mahāsamudde udakāni ṭhitāni honti.
Pañcamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā aṅgulipabbamattampi mahāsamudde udakaṁ na hoti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena chaṭṭho sūriyo pātubhavati.
Chaṭṭhassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ayañca mahāpathavī sineru ca pabbatarājā dhūmāyanti sandhūmāyanti sampadhūmāyanti.
Seyyathāpi, bhikkhave, kumbhakārapāko ālepito paṭhamaṁ dhūmeti sandhūmeti sampadhūmeti;
evamevaṁ kho, bhikkhave, chaṭṭhassa sūriyassa pātubhāvā ayañca mahāpathavī sineru ca pabbatarājā dhūmāyanti sandhūmāyanti sampadhūmāyanti.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā …pe…
alaṁ vimuccituṁ.
Hoti kho so, bhikkhave, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena sattamo sūriyo pātubhavati.
Sattamassa, bhikkhave, sūriyassa pātubhāvā ayañca mahāpathavī sineru ca pabbatarājā ādippanti pajjalanti ekajālā bhavanti.
Imissā ca, bhikkhave, mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ acci vātena khittā yāva brahmalokāpi gacchati.
Sinerussa, bhikkhave, pabbatarājassa jhāyamānassa dayhamānassa vinassamānassa mahatā tejokhandhena abhibhūtassa yojanasatikānipi kūṭāni palujjanti dviyojanasatikānipi, tiyojanasatikānipi, catuyojanasatikānipi, pañcayojanasatikānipi kūṭāni palujjanti.
Imissā ca, bhikkhave, mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ neva chārikā paññāyati na masi.
Seyyathāpi, bhikkhave, sappissa vā telassa vā jhāyamānassa dayhamānassa neva chārikā paññāyati na masi;
evamevaṁ kho, bhikkhave, imissā ca mahāpathaviyā sinerussa ca pabbatarājassa jhāyamānānaṁ dayhamānānaṁ neva chārikā paññāyati na masi.
Evaṁ aniccā, bhikkhave, saṅkhārā;
evaṁ adhuvā, bhikkhave, saṅkhārā;
evaṁ anassāsikā, bhikkhave, saṅkhārā.
Yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ alaṁ virajjituṁ alaṁ vimuccituṁ.
Tatra, bhikkhave, ko mantā ko saddhātā:
‘ayañca pathavī sineru ca pabbatarājā dayhissanti vinassissanti, na bhavissantī’ti aññatra diṭṭhapadehi?
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sunetto nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo.
Sunettassa kho pana, bhikkhave, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ.
Sunetto, bhikkhave, satthā sāvakānaṁ brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desesi.
Ye kho pana, bhikkhave, sunettassa satthuno brahmalokasahabyatāya dhammaṁ desentassa sabbena sabbaṁ sāsanaṁ ājāniṁsu te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ brahmalokaṁ upapajjiṁsu.
Ye na sabbena sabbaṁ sāsanaṁ ājāniṁsu te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā appekacce paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce nimmānaratīnaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce tusitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce yāmānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce tāvatiṁsānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce cātumahārājikānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce khattiyamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce brāhmaṇamahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu, appekacce gahapatimahāsālānaṁ sahabyataṁ upapajjiṁsu.
Atha kho, bhikkhave, sunettassa satthuno etadahosi:
‘na kho metaṁ patirūpaṁ yohaṁ sāvakānaṁ samasamagatiyo assaṁ abhisamparāyaṁ, yannūnāhaṁ uttari mettaṁ bhāveyyan’ti.
Atha kho, bhikkhave, sunetto satthā satta vassāni mettaṁ cittaṁ bhāvesi.
Satta vassāni mettaṁ cittaṁ bhāvetvā satta saṁvaṭṭavivaṭṭakappe nayimaṁ lokaṁ punarāgamāsi.
Saṁvaṭṭamāne sudaṁ, bhikkhave, loke ābhassarūpago hoti.
Vivaṭṭamāne loke suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjati.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, brahmā hoti mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī.
Chattiṁsakkhattuṁ kho pana, bhikkhave, sakko ahosi devānamindo.
Anekasatakkhattuṁ rājā ahosi cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Parosahassaṁ kho panassa puttā ahesuṁ sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasi.
So hi nāma, bhikkhave, sunetto satthā evaṁ dīghāyuko samāno evaṁ ciraṭṭhitiko aparimutto ahosi:
jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, ‘aparimutto dukkhasmā’ti vadāmi.
Taṁ kissa hetu?
Catunnaṁ dhammānaṁ ananubodhā appaṭivedhā.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Ariyassa, bhikkhave, sīlassa ananubodhā appaṭivedhā, ariyassa samādhissa ananubodhā appaṭivedhā, ariyāya paññāya ananubodhā appaṭivedhā, ariyāya vimuttiyā ananubodhā appaṭivedhā.
Tayidaṁ, bhikkhave, ariyaṁ sīlaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ariyo samādhi anubodho paṭividdho, ariyā paññā anubodhā paṭividdhā, ariyā vimutti anubodhā paṭividdhā, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Sīlaṁ samādhi paññā ca,
vimutti ca anuttarā;
Anubuddhā ime dhammā,
gotamena yasassinā.
Iti buddho abhiññāya,
dhammamakkhāsi bhikkhunaṁ;
Dukkhassantakaro satthā,
cakkhumā parinibbuto”ti.
Dutiyaṁ.