TTC 1—Phạm hạnh này được sống, được lợi ích trong học tập, được trí tuệ vô thượng, được giải thoát kiên cố, được niệm tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lợi ích học tập?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các học pháp thắng hạnh được Ta đặt cho các đệ tử, để những ai ít lòng tin phát khởi lòng tin. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các học pháp thắng hạnh được Ta chế đặt cho các đệ tử, để những ai ít lòng tin phát khởi lòng tin, để những ai có lòng tin, được tăng trưởng lòng tin. Do vậy, một đệ tử sau khi chấp nhận và học tập trong các học pháp, đối với học pháp ấy là người sở hành không bị bể vụn, sở hành không cắt xén, sở hành không bị vết nhơ, sở hành không bị chấm đen.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các học pháp sở hành Phạm hạnh được Ta đặt cho các đệ tử, để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các học pháp sở hành Phạm hạnh được Ta chế đặt cho các đệ tử, để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy, một đệ tử sau khi chấp nhận và học tập trong các học pháp, đối với học pháp ấy là người sở hành không bị bể vụn, sở hành không cắt xén, sở hành không bị vết nhơ, sở hành không bị chấm đen. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của học tập.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trí tuệ vô thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các pháp Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các pháp Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy các pháp ấy được trí tuệ quán sát một cách đồng đẳng.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trí tuệ vô thượng.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giải thoát kiên cố?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy các pháp ấy được khéo cảm xúc với giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là giải thoát kiên cố.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm tăng thượng?
Với tư tưởng: “Ta sẽ là viên mãn học pháp thắng hạnh chưa được đầy đủ; hay nếu học pháp thắng hạnh chưa được đầy đủ, Ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú với tư tưởng: “Ta sẽ là viên mãn học pháp sở hành Phạm hạnh chưa được đầy đủ; hay nếu học pháp sở hành Phạm hạnh được đầy đủ, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú. Với tư tưởng: “Ta sẽ quán sát đồng đẳng với trí tuệ pháp chưa được đồng đẳng quán sát; hay nếu pháp đã được đồng đẳng quán sát, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú. Với tư tưởng: “Ta sẽ cảm xúc với giải thoát, pháp chưa được cảm xúc; hay nếu pháp đã được cảm xúc, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú”. Như vậy này các Tỷ-kheo, là niệm tăng thượng.
Phạm hạnh này được sống, này các Tỷ-kheo, để được lợi ích trong học tập, được trí tuệ vô thượng, được giải thoát kiên cố, được niệm tăng thượng. Như vậy được nói đến, do duyên này được nói đến như vậy.
“Sikkhānisaṁsamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ vussati paññuttaraṁ vimuttisāraṁ satādhipateyyaṁ.
Kathañca, bhikkhave, sikkhānisaṁsaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ābhisamācārikā sikkhā paññattā appasannānaṁ pasādāya pasannānaṁ bhiyyobhāvāya.
Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ābhisamācārikā sikkhā paññattā appasannānaṁ pasādāya pasannānaṁ bhiyyobhāvāya tathā tathā so tassā sikkhāya akhaṇḍakārī hoti acchiddakārī asabalakārī akammāsakārī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ādibrahmacariyikā sikkhā paññattā sabbaso sammā dukkhakkhayāya.
Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ādibrahmacariyikā sikkhā paññattā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathā so tassā sikkhāya akhaṇḍakārī hoti acchiddakārī asabalakārī akammāsakārī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Evaṁ kho, bhikkhave, sikkhānisaṁsaṁ hoti.
Kathañca, bhikkhave, paññuttaraṁ hoti?
Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya.
Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathāssa te dhammā paññāya samavekkhitā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, paññuttaraṁ hoti.
Kathañca, bhikkhave, vimuttisāraṁ hoti?
Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya.
Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathāssa te dhammā vimuttiyā phusitā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, vimuttisāraṁ hoti.
Kathañca, bhikkhave, satādhipateyyaṁ hoti?
‘Iti aparipūraṁ vā ābhisamācārikaṁ sikkhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā ābhisamācārikaṁ sikkhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti.
‘Iti aparipūraṁ vā ādibrahmacariyikaṁ sikkhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā ādibrahmacariyikaṁ sikkhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti.
‘Iti asamavekkhitaṁ vā dhammaṁ paññāya samavekkhissāmi, samavekkhitaṁ vā dhammaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti.
‘Iti aphusitaṁ vā dhammaṁ vimuttiyā phusissāmi, phusitaṁ vā dhammaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, satādhipateyyaṁ hoti.
‘Sikkhānisaṁsamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ vussati paññuttaraṁ vimuttisāraṁ satādhipateyyan’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Tatiyaṁ.
“Monks, this holy life is lived with training as a reward, with discernment as its surpassing state, with release as its heartwood, and with mindfulness as its governing principle.
“And how is training a reward? There is the case where the training I have formulated for my disciples with regard to good conduct is for the arousing of faith in those without faith, and for the increase of the faithful. And however I have formulated the training for my disciples with regard to good conduct for the arousing of faith in those without faith, and for the increase of the faithful, one behaves in a way that is untorn in line with that training—unbroken, unspotted, unsplattered. Having undertaken them, one trains in line with the training rules.
“And further, the training I have formulated for my disciples with regard to the basics of the holy life is entirely for the right ending of suffering & stress. And however I have formulated the training for my disciples with regard to the basics of the holy life for the right ending of suffering & stress, one behaves in a way that is untorn in line with that training—unbroken, unspotted, unsplattered. Having undertaken them, one trains in line with the training rules.
“This is how training is a reward.
“And how is discernment the surpassing state? There is the case where the Dhammas I have pointed out to my disciples are entirely for the right ending of suffering & stress. And however I have pointed out Dhammas for my disciples entirely for the right ending of suffering & stress, one has scrutinized them all with discernment.
“This is how discernment is the surpassing state.
“And how is release the heartwood? There is the case where the Dhammas I have pointed out to my disciples are entirely for the right ending of suffering & stress. And however I have pointed out Dhammas for my disciples entirely for the right ending of suffering & stress, one has touched them all through release.
“This is how release is the heartwood.
“And how is mindfulness the governing principle? The mindfulness that ‘I will make complete any training with regard to good conduct that is not yet complete, or I will protect with discernment any training with regard to good conduct that is complete’ is well established right within. The mindfulness that ‘I will make complete any training with regard to the basics of the holy life that is not yet complete, or I will protect with discernment any training with regard to the basics of the holy life that is complete’ is well established right within. The mindfulness that ‘I will scrutinize with discernment any Dhamma that is not yet scrutinized, or I will protect with discernment any Dhamma that has been scrutinized’ is well established right within. The mindfulness that ‘I will touch through release any Dhamma that is not yet touched, or I will protect with discernment any Dhamma that has been touched’ is well established right within.
“This is how mindfulness is the governing principle.
“‘Monks, this holy life is lived with training as a reward, with discernment as its surpassing state, with release as its heartwood, and with mindfulness as its governing principle’: Thus it was said. And in reference to this was it said.”
TTC 1—Phạm hạnh này được sống, được lợi ích trong học tập, được trí tuệ vô thượng, được giải thoát kiên cố, được niệm tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lợi ích học tập?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các học pháp thắng hạnh được Ta đặt cho các đệ tử, để những ai ít lòng tin phát khởi lòng tin. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các học pháp thắng hạnh được Ta chế đặt cho các đệ tử, để những ai ít lòng tin phát khởi lòng tin, để những ai có lòng tin, được tăng trưởng lòng tin. Do vậy, một đệ tử sau khi chấp nhận và học tập trong các học pháp, đối với học pháp ấy là người sở hành không bị bể vụn, sở hành không cắt xén, sở hành không bị vết nhơ, sở hành không bị chấm đen.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các học pháp sở hành Phạm hạnh được Ta đặt cho các đệ tử, để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các học pháp sở hành Phạm hạnh được Ta chế đặt cho các đệ tử, để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy, một đệ tử sau khi chấp nhận và học tập trong các học pháp, đối với học pháp ấy là người sở hành không bị bể vụn, sở hành không cắt xén, sở hành không bị vết nhơ, sở hành không bị chấm đen. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của học tập.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trí tuệ vô thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các pháp Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các pháp Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy các pháp ấy được trí tuệ quán sát một cách đồng đẳng.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trí tuệ vô thượng.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giải thoát kiên cố?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, các pháp được Ta thuyết giảng cho các đệ tử để chơn chánh đoạn diệt đau khổ một cách hoàn toàn. Do vậy các pháp ấy được khéo cảm xúc với giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là giải thoát kiên cố.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm tăng thượng?
Với tư tưởng: “Ta sẽ là viên mãn học pháp thắng hạnh chưa được đầy đủ; hay nếu học pháp thắng hạnh chưa được đầy đủ, Ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú với tư tưởng: “Ta sẽ là viên mãn học pháp sở hành Phạm hạnh chưa được đầy đủ; hay nếu học pháp sở hành Phạm hạnh được đầy đủ, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú. Với tư tưởng: “Ta sẽ quán sát đồng đẳng với trí tuệ pháp chưa được đồng đẳng quán sát; hay nếu pháp đã được đồng đẳng quán sát, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú. Với tư tưởng: “Ta sẽ cảm xúc với giải thoát, pháp chưa được cảm xúc; hay nếu pháp đã được cảm xúc, ta sẽ bổ sung thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Do vậy, niệm nội tâm được khéo an trú”. Như vậy này các Tỷ-kheo, là niệm tăng thượng.
Phạm hạnh này được sống, này các Tỷ-kheo, để được lợi ích trong học tập, được trí tuệ vô thượng, được giải thoát kiên cố, được niệm tăng thượng. Như vậy được nói đến, do duyên này được nói đến như vậy.
“Sikkhānisaṁsamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ vussati paññuttaraṁ vimuttisāraṁ satādhipateyyaṁ.
Kathañca, bhikkhave, sikkhānisaṁsaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ābhisamācārikā sikkhā paññattā appasannānaṁ pasādāya pasannānaṁ bhiyyobhāvāya.
Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ābhisamācārikā sikkhā paññattā appasannānaṁ pasādāya pasannānaṁ bhiyyobhāvāya tathā tathā so tassā sikkhāya akhaṇḍakārī hoti acchiddakārī asabalakārī akammāsakārī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ādibrahmacariyikā sikkhā paññattā sabbaso sammā dukkhakkhayāya.
Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ ādibrahmacariyikā sikkhā paññattā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathā so tassā sikkhāya akhaṇḍakārī hoti acchiddakārī asabalakārī akammāsakārī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Evaṁ kho, bhikkhave, sikkhānisaṁsaṁ hoti.
Kathañca, bhikkhave, paññuttaraṁ hoti?
Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya.
Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathāssa te dhammā paññāya samavekkhitā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, paññuttaraṁ hoti.
Kathañca, bhikkhave, vimuttisāraṁ hoti?
Idha, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya.
Yathā yathā, bhikkhave, mayā sāvakānaṁ dhammā desitā sabbaso sammā dukkhakkhayāya tathā tathāssa te dhammā vimuttiyā phusitā honti.
Evaṁ kho, bhikkhave, vimuttisāraṁ hoti.
Kathañca, bhikkhave, satādhipateyyaṁ hoti?
‘Iti aparipūraṁ vā ābhisamācārikaṁ sikkhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā ābhisamācārikaṁ sikkhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti.
‘Iti aparipūraṁ vā ādibrahmacariyikaṁ sikkhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā ādibrahmacariyikaṁ sikkhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti.
‘Iti asamavekkhitaṁ vā dhammaṁ paññāya samavekkhissāmi, samavekkhitaṁ vā dhammaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti.
‘Iti aphusitaṁ vā dhammaṁ vimuttiyā phusissāmi, phusitaṁ vā dhammaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmī’ti—ajjhattaṁyeva sati sūpaṭṭhitā hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, satādhipateyyaṁ hoti.
‘Sikkhānisaṁsamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ vussati paññuttaraṁ vimuttisāraṁ satādhipateyyan’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Tatiyaṁ.