TTC 1Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
—Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là thối đọa. Thế nào là bốn?
Tham ái tăng thịnh, sân tăng thịnh, si tăng thịnh, đối với các vấn đề có mặt, không có mặt, không có tuệ nhãn soi thấu.
Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là thối đọa.
TTC 2Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi không thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là không thối đọa. Thế nào là bốn?
Tham ái giảm thiểu, sân giảm thiểu, si giảm thiểu. Ðối với các vấn đề có mặt, không có mặt, có tuệ nhãn soi thấu.
Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Ta không thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là không thối đọa.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā cattāro dhamme attani samanupassati, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
Parihānametaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Katame cattāro?
Rāgavepullattaṁ, dosavepullattaṁ, mohavepullattaṁ, gambhīresu kho panassa ṭhānāṭhānesu paññācakkhu na kamati.
Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā ime cattāro dhamme attani samanupassati, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
Parihānametaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā cattāro dhamme attani samanupassati, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘na parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
Aparihānametaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Katame cattāro?
Rāgatanuttaṁ, dosatanuttaṁ, mohatanuttaṁ, gambhīresu kho panassa ṭhānāṭhānesu paññācakkhu kamati.
Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā ime cattāro dhamme attani samanupassati, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘na parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
Aparihānametaṁ vuttaṁ bhagavatā”ti.
Aṭṭhamaṁ.
There Sāriputta addressed the mendicants:
“Reverends, mendicants!”
“Reverend,” they replied.
Sāriputta said this:
“Reverends, any monk or nun who sees four things inside themselves should conclude:
‘My skillful qualities are declining.
For this is what the Buddha calls decline.’
What four?
They have much greed, much hate, and much delusion; and their wisdom eye doesn’t go into the many deep matters.
Any monk or nun who sees these four things inside themselves should conclude:
‘My skillful qualities are declining.
For this is what the Buddha calls decline.’
Any monk or nun who sees four things inside themselves should conclude:
‘My skillful qualities are not declining.
For this is what the Buddha calls non-decline.’
What four?
Their greed, hate, and delusion grow less; and their wisdom eye goes into the many deep matters.
Any monk or nun who sees these four things inside themselves should conclude:
‘My skillful qualities are not declining.
For this is what the Buddha calls non-decline.’”
TTC 1Tại đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả Tỷ-kheo.
—Thưa vâng, Hiền giả.
Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
—Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là thối đọa. Thế nào là bốn?
Tham ái tăng thịnh, sân tăng thịnh, si tăng thịnh, đối với các vấn đề có mặt, không có mặt, không có tuệ nhãn soi thấu.
Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là thối đọa.
TTC 2Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Tôi không thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là không thối đọa. Thế nào là bốn?
Tham ái giảm thiểu, sân giảm thiểu, si giảm thiểu. Ðối với các vấn đề có mặt, không có mặt, có tuệ nhãn soi thấu.
Thưa các Hiền giả, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào thấy trên tự thân có bốn pháp này, cần phải đi đến kết luận rằng: “Ta không thối đọa khỏi các thiện pháp “. Ðây được Thế Tôn gọi là không thối đọa.
Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
“āvuso bhikkhave”ti.
“Āvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato sāriputtassa paccassosuṁ.
Āyasmā sāriputto etadavoca:
“Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā cattāro dhamme attani samanupassati, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
Parihānametaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Katame cattāro?
Rāgavepullattaṁ, dosavepullattaṁ, mohavepullattaṁ, gambhīresu kho panassa ṭhānāṭhānesu paññācakkhu na kamati.
Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā ime cattāro dhamme attani samanupassati, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
Parihānametaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā cattāro dhamme attani samanupassati, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘na parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
Aparihānametaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Katame cattāro?
Rāgatanuttaṁ, dosatanuttaṁ, mohatanuttaṁ, gambhīresu kho panassa ṭhānāṭhānesu paññācakkhu kamati.
Yo hi koci, āvuso, bhikkhu vā bhikkhunī vā ime cattāro dhamme attani samanupassati, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘na parihāyāmi kusalehi dhammehi’.
Aparihānametaṁ vuttaṁ bhagavatā”ti.
Aṭṭhamaṁ.