TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, tại ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàli người Licchavi, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahàli người Licchavi bạch Thế Tôn:
TTC 2—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm?
—Này Mahàli, do nhân tham, do duyên tham, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahali, do nhân sân, do duyên sân, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Do nhân si, do duyên si, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân phi như lý tác ý, do duyên phi như lý tác ý, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân tâm tà hướng, do duyên tâm tà hướng, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm.
TTC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm?
—Này Mahàli, do nhân vô tham, do duyên vô tham, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân vô sân, do duyên vô sân… do nhân vô si, do nhân vô si… do nhân như lý tác ý, do duyên như lý tác ý… do nhân tâm chánh hướng, do duyên tâm chánh hướng, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm.
Và này Mahàli, nếu 10 pháp này không thực hiện hữu ở đời, thời đây không có lời tuyên bố về phi pháp hành, bất bình đẳng hành, hay pháp hành, bình đẳng hành. Vì rằng, này Mahàli, mười pháp này hiện hữu ở đời, thời ở đây có lời tuyên bố về phi pháp hành, bất bình đẳng hành, hay pháp hành, bình đẳng hành.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho mahāli licchavi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahāli licchavi bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Lobho kho, mahāli, hetu, lobho paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā.
Doso kho, mahāli, hetu, doso paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā.
Moho kho, mahāli, hetu, moho paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā.
Ayoniso manasikāro kho, mahāli, hetu, ayoniso manasikāro paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā.
Micchāpaṇihitaṁ kho, mahāli, cittaṁ hetu, micchāpaṇihitaṁ cittaṁ paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyāti.
Ayaṁ kho, mahāli, hetu, ayaṁ paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti.
“Ko pana, bhante, hetu ko paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā”ti?
“Alobho kho, mahāli, hetu, alobho paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Adoso kho, mahāli, hetu, adoso paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Amoho kho, mahāli, hetu, amoho paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Yoniso manasikāro kho, mahāli, hetu, yoniso manasikāro paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Sammāpaṇihitaṁ kho, mahāli, cittaṁ hetu, sammāpaṇihitaṁ cittaṁ paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Ayaṁ kho, mahāli, hetu, ayaṁ paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Ime ca, mahāli, dasa dhammā loke na saṁvijjeyyuṁ, nayidha paññāyetha adhammacariyāvisamacariyāti vā dhammacariyāsamacariyāti vā.
Yasmā ca kho, mahāli, ime dasa dhammā loke saṁvijjanti, tasmā paññāyati adhammacariyāvisamacariyāti vā dhammacariyāsamacariyāti vā”ti.
Sattamaṁ.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then Mahāli the Licchavi went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“What is the cause, sir, what is the reason for doing bad deeds, for performing bad deeds?”
“Greed is a cause, Mahāli, greed is a reason for doing bad deeds, for performing bad deeds.
Hate is a cause of bad deeds …
Delusion is a cause of bad deeds …
Irrational application of mind gives rise to bad deeds …
A wrongly directed mind is a cause of bad deeds …
This is the cause, Mahāli, this is the reason for doing bad deeds, for performing bad deeds.”
“What is the cause, sir, what is the reason for doing good deeds, for performing good deeds?”
“Contentment is a cause, Mahāli, contentment is a reason for doing good deeds, for performing good deeds.
Love is a cause of good deeds …
Understanding is a cause of good deeds …
Rational application of mind gives rise to good deeds …
A rightly directed mind is a cause of good deeds …
This is the cause, Mahāli, this is the reason for doing good deeds, for performing good deeds.
If these ten things were not found in the world, we wouldn’t see either unprincipled and immoral conduct, or principled and moral conduct.
But since these ten things are found in the world, we see both unprincipled and immoral conduct, and principled and moral conduct.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm, tại ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàli người Licchavi, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahàli người Licchavi bạch Thế Tôn:
TTC 2—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm?
—Này Mahàli, do nhân tham, do duyên tham, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahali, do nhân sân, do duyên sân, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Do nhân si, do duyên si, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân phi như lý tác ý, do duyên phi như lý tác ý, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân tâm tà hướng, do duyên tâm tà hướng, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên, ác nghiệp được làm, ác nghiệp được tiếp tục làm.
TTC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm?
—Này Mahàli, do nhân vô tham, do duyên vô tham, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, do nhân vô sân, do duyên vô sân… do nhân vô si, do nhân vô si… do nhân như lý tác ý, do duyên như lý tác ý… do nhân tâm chánh hướng, do duyên tâm chánh hướng, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên, thiện nghiệp được làm, thiện nghiệp được tiếp tục làm.
Và này Mahàli, nếu 10 pháp này không thực hiện hữu ở đời, thời đây không có lời tuyên bố về phi pháp hành, bất bình đẳng hành, hay pháp hành, bình đẳng hành. Vì rằng, này Mahàli, mười pháp này hiện hữu ở đời, thời ở đây có lời tuyên bố về phi pháp hành, bất bình đẳng hành, hay pháp hành, bình đẳng hành.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho mahāli licchavi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahāli licchavi bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti?
“Lobho kho, mahāli, hetu, lobho paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā.
Doso kho, mahāli, hetu, doso paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā.
Moho kho, mahāli, hetu, moho paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā.
Ayoniso manasikāro kho, mahāli, hetu, ayoniso manasikāro paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā.
Micchāpaṇihitaṁ kho, mahāli, cittaṁ hetu, micchāpaṇihitaṁ cittaṁ paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyāti.
Ayaṁ kho, mahāli, hetu, ayaṁ paccayo pāpassa kammassa kiriyāya pāpassa kammassa pavattiyā”ti.
“Ko pana, bhante, hetu ko paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā”ti?
“Alobho kho, mahāli, hetu, alobho paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Adoso kho, mahāli, hetu, adoso paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Amoho kho, mahāli, hetu, amoho paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Yoniso manasikāro kho, mahāli, hetu, yoniso manasikāro paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Sammāpaṇihitaṁ kho, mahāli, cittaṁ hetu, sammāpaṇihitaṁ cittaṁ paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Ayaṁ kho, mahāli, hetu, ayaṁ paccayo kalyāṇassa kammassa kiriyāya kalyāṇassa kammassa pavattiyā.
Ime ca, mahāli, dasa dhammā loke na saṁvijjeyyuṁ, nayidha paññāyetha adhammacariyāvisamacariyāti vā dhammacariyāsamacariyāti vā.
Yasmā ca kho, mahāli, ime dasa dhammā loke saṁvijjanti, tasmā paññāyati adhammacariyāvisamacariyāti vā dhammacariyāsamacariyāti vā”ti.
Sattamaṁ.