TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, sau khi từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahàmoggallàna, Tôn giả Mahàkassapa, Tôn giả Mahàkaccàna, Tôn giả Mahàkotthita, Tôn giả Mahàcunda, Tôn giả Mahàkappina, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Revata, Tôn giả Ananda vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy đi đến giảng đường; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn, sau khi ngồi như vậy đến quá phần lớn của đêm, từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tinh xá. Các Tôn giả ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi về tinh xá của mình. Nhưng tại đấy, các Tỷ-kheo tân học xuất gia không bao lâu, đi đến Pháp và Luật này chưa nhiều thời gian, ngáy và ngủ tại chỗ cho đến sáng. Rồi Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân thấy các Tỷ-kheo ấy ngáy và ngủ tại chỗ cho đến sáng, thấy vậy liền đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo ấy:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, Sàriputta ở đâu? Mahàmoggallàna ở đâu? Mahàkassapa ở đâu? Mahàkaccàna ở đâu? Mahàkotthita ở đâu? Mahàcunda ở đâu? Mahàkappina ở đâu? Anuruddha ở đâu? Revata ở đâu? Ananda ở đâu? Này các Tỷ-kheo, các đệ tử trưởng lão ấy đã đi đâu?
—Bạch Thế Tôn, các Tôn giả ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đi về tinh xá của mình.
—Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy không có các Tỷ-kheo trưởng lão, các tân học Tỷ-kheo ngáy và ngủ cho đến trời sáng!
Các Thầy nghĩ thế nào? Này các Tỷ-kheo! Các Thầy có thấy và có nghe như sau: “Một vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể cai trị cả nước cho đến trọn đời, được quốc dân ái mộ và ưa thích”?
—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: Này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể cai trị cả nước cho đến trọn đời, được quốc dân ái mộ và ưa thích.
Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Người thôn quê sống trên đất trại của người cha, vị tướng quân trong quân đội, vị thôn trưởng ở làng, vị tổ trưởng các tổ hợp sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể trọn đời làm tổ trưởng các tổ hợp và được các tổ viên ái mộ, ưa thích”?
—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau, này các Tỷ-kheo: Một người thôn quê sống trên đất trại của người cha, vị tướng quân sống trong quân đội, vị thôn trưởng ở làng, vị tổ trưởng các tổ hợp sống chuyên tâm hưởng thọ lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể trọn đời làm tổ trưởng các tổ hợp và được các tổ viên ái mộ và ưa thích.
Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có hay có nghe như sau: “Vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, không phòng hộ các căn môn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm không sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát”?
—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau, này các Tỷ-kheo: Một vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, không phòng hộ các căn môn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm không sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:
TTC 3Với căn môn được phòng hộ, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Āyasmāpi kho sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Āyasmāpi kho mahāmoggallāno …
āyasmāpi kho mahākassapo …
āyasmāpi kho mahākaccāno …
āyasmāpi kho mahākoṭṭhiko …
āyasmāpi kho mahācundo …
āyasmāpi kho mahākappino …
āyasmāpi kho anuruddho …
āyasmāpi kho revato …
āyasmāpi kho ānando sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Atha kho bhagavā bahudeva rattiṁ nisajjāya vītināmetvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Tepi kho āyasmanto acirapakkantassa bhagavato uṭṭhāyāsanā yathāvihāraṁ agamaṁsu.
Ye pana tattha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ te yāva sūriyuggamanā kākacchamānā supiṁsu.
Addasā kho bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena te bhikkhū yāva sūriyuggamanā kākacchamāne supante.
Disvā yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Kahaṁ nu kho, bhikkhave, sāriputto?
Kahaṁ mahāmoggallāno?
Kahaṁ mahākassapo?
Kahaṁ mahākaccāno?
Kahaṁ mahākoṭṭhiko?
Kahaṁ mahācundo?
Kahaṁ mahākappino?
Kahaṁ anuruddho?
Kahaṁ revato?
Kahaṁ ānando?
Kahaṁ nu kho te, bhikkhave, therā sāvakā gatā”ti?
“Tepi kho, bhante, āyasmanto acirapakkantassa bhagavato uṭṭhāyāsanā yathāvihāraṁ agamaṁsū”ti.
“Tena no tumhe, bhikkhave, therā bhikkhū nāgatāti yāva sūriyuggamanā kākacchamānā supatha?
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘rājā khattiyo muddhāvasitto yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharanto yāvajīvaṁ rajjaṁ kārento janapadassa vā piyo manāpo’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘rājā khattiyo muddhāvasitto yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharanto yāvajīvaṁ rajjaṁ kārento janapadassa vā piyo manāpo’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘raṭṭhiko …pe…
pettaṇiko …
senāpatiko …
gāmagāmaṇiko …
pūgagāmaṇiko yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharanto yāvajīvaṁ pūgagāmaṇikattaṁ kārento pūgassa vā piyo manāpo’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘pūgagāmaṇiko yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharanto yāvajīvaṁ pūgagāmaṇikattaṁ vā kārento pūgassa vā piyo manāpo’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘samaṇo vā brāhmaṇo vā yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto indriyesu aguttadvāro bhojane amattaññū jāgariyaṁ ananuyutto avipassako kusalānaṁ dhammānaṁ pubbarattāpararattaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanānuyogaṁ ananuyutto āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanto’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘samaṇo vā brāhmaṇo vā yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto indriyesu aguttadvāro bhojane amattaññū jāgariyaṁ ananuyutto avipassako kusalānaṁ dhammānaṁ pubbarattāpararattaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanānuyogaṁ ananuyutto āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanto’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘indriyesu guttadvārā bhavissāma, bhojane mattaññuno, jāgariyaṁ anuyuttā, vipassakā kusalānaṁ dhammānaṁ, pubbarattāpararattaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ, bhāvanānuyogamanuyuttā viharissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat, went to the assembly hall, and sat down on the seat spread out.
Venerable Sāriputta also came out of retreat, went to the assembly hall, bowed to the Buddha and sat down to one side.
Venerables Mahāmoggallāna,
Mahākassapa,
Mahākaccāna,
Mahākoṭṭhita,
Mahācunda,
Mahākappina,
Anuruddha,
Revata,
and Ānanda did the same.
The Buddha spent much of the night sitting in meditation, then got up from his seat and entered his dwelling.
And soon after the Buddha left those venerables each went to their own dwelling.
But those mendicants who were junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training slept until the sun came up, snoring.
The Buddha saw them doing this, with his clairvoyance that is purified and superhuman.
He went to the assembly hall, sat down on the seat spread out,
and addressed the mendicants:
“Mendicants, where is Sāriputta?
Where are Mahāmoggallāna,
Mahākassapa,
Mahākaccāna,
Mahākoṭṭhita,
Mahācunda,
Mahākappina,
Anuruddha,
Revata,
and Ānanda?
Where have these senior disciples gone?”
“Soon after the Buddha left those venerables each went to their own dwelling.”
“So, mendicants, when the senior mendicants left, why did you sleep until the sun came up, snoring?
What do you think, mendicants?
Have you ever seen or heard
of an anointed aristocratic king who rules his whole life, dear and beloved to the country, while indulging in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing as much as he likes?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
I too have never seen or heard of such a thing.
What do you think, mendicants?
Have you ever seen or heard
of an appointed official …
a hereditary official …
a general …
a village chief …
or a guild head who runs the guild his whole life, dear and beloved to the guild, while indulging in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing as much as he likes?”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
I too have never seen or heard of such a thing.
What do you think, mendicants?
Have you ever seen or heard
of an ascetic or brahmin who indulges in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing as much as they like? Their sense doors are unguarded, they eat too much, they’re not dedicated to wakefulness, they’re unable to discern skillful qualities, and they don’t pursue the development of the qualities that lead to awakening in the evening and toward dawn. Yet they realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.”
“No, sir.”
“Good, mendicants!
I too have never seen or heard of such a thing.
So you should train like this:
‘We will guard our sense doors, eat in moderation, be dedicated to wakefulness, discern skillful qualities, and pursue the development of the qualities that lead to awakening in the evening and toward dawn.’
That’s how you should train.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Tôn giả Sàriputta vào buổi chiều, sau khi từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến giảng đường; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Mahàmoggallàna, Tôn giả Mahàkassapa, Tôn giả Mahàkaccàna, Tôn giả Mahàkotthita, Tôn giả Mahàcunda, Tôn giả Mahàkappina, Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Revata, Tôn giả Ananda vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy đi đến giảng đường; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn, sau khi ngồi như vậy đến quá phần lớn của đêm, từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tinh xá. Các Tôn giả ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi về tinh xá của mình. Nhưng tại đấy, các Tỷ-kheo tân học xuất gia không bao lâu, đi đến Pháp và Luật này chưa nhiều thời gian, ngáy và ngủ tại chỗ cho đến sáng. Rồi Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân thấy các Tỷ-kheo ấy ngáy và ngủ tại chỗ cho đến sáng, thấy vậy liền đi đến giảng đường; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo ấy:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, Sàriputta ở đâu? Mahàmoggallàna ở đâu? Mahàkassapa ở đâu? Mahàkaccàna ở đâu? Mahàkotthita ở đâu? Mahàcunda ở đâu? Mahàkappina ở đâu? Anuruddha ở đâu? Revata ở đâu? Ananda ở đâu? Này các Tỷ-kheo, các đệ tử trưởng lão ấy đã đi đâu?
—Bạch Thế Tôn, các Tôn giả ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đi về tinh xá của mình.
—Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy không có các Tỷ-kheo trưởng lão, các tân học Tỷ-kheo ngáy và ngủ cho đến trời sáng!
Các Thầy nghĩ thế nào? Này các Tỷ-kheo! Các Thầy có thấy và có nghe như sau: “Một vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể cai trị cả nước cho đến trọn đời, được quốc dân ái mộ và ưa thích”?
—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau: Này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-ly đã làm lễ quán đảnh, sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể cai trị cả nước cho đến trọn đời, được quốc dân ái mộ và ưa thích.
Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thấy hay có nghe như sau: “Người thôn quê sống trên đất trại của người cha, vị tướng quân trong quân đội, vị thôn trưởng ở làng, vị tổ trưởng các tổ hợp sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể trọn đời làm tổ trưởng các tổ hợp và được các tổ viên ái mộ, ưa thích”?
—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo! Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau, này các Tỷ-kheo: Một người thôn quê sống trên đất trại của người cha, vị tướng quân sống trong quân đội, vị thôn trưởng ở làng, vị tổ trưởng các tổ hợp sống chuyên tâm hưởng thọ lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, có thể trọn đời làm tổ trưởng các tổ hợp và được các tổ viên ái mộ và ưa thích.
Các Thầy nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, các Thầy có hay có nghe như sau: “Vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, không phòng hộ các căn môn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm không sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát”?
—Thưa không vậy, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, này các Tỷ-kheo, Ta cũng không thấy, cũng không nghe như sau, này các Tỷ-kheo: Một vị Sa-môn hay Bà-la-môn sống chuyên tâm hưởng thọ cho đến thỏa thích lạc về giường nằm, lạc về nằm dài, lạc về ngủ nghỉ, không phòng hộ các căn môn, không tiết độ trong ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm không sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:
TTC 3Với căn môn được phòng hộ, ăn uống có tiết độ, chú tâm cảnh giác, quán các thiện pháp, đầu đêm cuối đêm sống chuyên tâm tu tập các pháp giác chi, do đoạn tận các lậu hoặc, có thể tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Āyasmāpi kho sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Āyasmāpi kho mahāmoggallāno …
āyasmāpi kho mahākassapo …
āyasmāpi kho mahākaccāno …
āyasmāpi kho mahākoṭṭhiko …
āyasmāpi kho mahācundo …
āyasmāpi kho mahākappino …
āyasmāpi kho anuruddho …
āyasmāpi kho revato …
āyasmāpi kho ānando sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Atha kho bhagavā bahudeva rattiṁ nisajjāya vītināmetvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Tepi kho āyasmanto acirapakkantassa bhagavato uṭṭhāyāsanā yathāvihāraṁ agamaṁsu.
Ye pana tattha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ te yāva sūriyuggamanā kākacchamānā supiṁsu.
Addasā kho bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena te bhikkhū yāva sūriyuggamanā kākacchamāne supante.
Disvā yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Kahaṁ nu kho, bhikkhave, sāriputto?
Kahaṁ mahāmoggallāno?
Kahaṁ mahākassapo?
Kahaṁ mahākaccāno?
Kahaṁ mahākoṭṭhiko?
Kahaṁ mahācundo?
Kahaṁ mahākappino?
Kahaṁ anuruddho?
Kahaṁ revato?
Kahaṁ ānando?
Kahaṁ nu kho te, bhikkhave, therā sāvakā gatā”ti?
“Tepi kho, bhante, āyasmanto acirapakkantassa bhagavato uṭṭhāyāsanā yathāvihāraṁ agamaṁsū”ti.
“Tena no tumhe, bhikkhave, therā bhikkhū nāgatāti yāva sūriyuggamanā kākacchamānā supatha?
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘rājā khattiyo muddhāvasitto yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharanto yāvajīvaṁ rajjaṁ kārento janapadassa vā piyo manāpo’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘rājā khattiyo muddhāvasitto yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharanto yāvajīvaṁ rajjaṁ kārento janapadassa vā piyo manāpo’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘raṭṭhiko …pe…
pettaṇiko …
senāpatiko …
gāmagāmaṇiko …
pūgagāmaṇiko yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharanto yāvajīvaṁ pūgagāmaṇikattaṁ kārento pūgassa vā piyo manāpo’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘pūgagāmaṇiko yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharanto yāvajīvaṁ pūgagāmaṇikattaṁ vā kārento pūgassa vā piyo manāpo’ti.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
api nu tumhehi diṭṭhaṁ vā sutaṁ vā:
‘samaṇo vā brāhmaṇo vā yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto indriyesu aguttadvāro bhojane amattaññū jāgariyaṁ ananuyutto avipassako kusalānaṁ dhammānaṁ pubbarattāpararattaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanānuyogaṁ ananuyutto āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanto’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu, bhikkhave.
Mayāpi kho etaṁ, bhikkhave, neva diṭṭhaṁ na sutaṁ:
‘samaṇo vā brāhmaṇo vā yāvadatthaṁ seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto indriyesu aguttadvāro bhojane amattaññū jāgariyaṁ ananuyutto avipassako kusalānaṁ dhammānaṁ pubbarattāpararattaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ bhāvanānuyogaṁ ananuyutto āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanto’ti.
Tasmātiha, bhikkhave, evaṁ sikkhitabbaṁ:
‘indriyesu guttadvārā bhavissāma, bhojane mattaññuno, jāgariyaṁ anuyuttā, vipassakā kusalānaṁ dhammānaṁ, pubbarattāpararattaṁ bodhipakkhiyānaṁ dhammānaṁ, bhāvanānuyogamanuyuttā viharissāmā’ti.
Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabban”ti.
Sattamaṁ.