TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín Thiền chứng thứ đệ trú này. Hãy lắng nghe… Này các Tỷ-kheo, thế nào là chín thứ đệ trú Thiền chứng?
TTC 2Chỗ nào các dục đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào các dục được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú: “Ta không biết vậy, Ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly các dục… chứng và an trú Thiền thứ nhất. Tại đây, các dục được đoạn diệt, các vị ấy sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 3Chỗ nào các tầm và tứ được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt tầm và tứ, sống không an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không bỏ dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua , đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào các tầm và tứ được đoạn diệt ? Những ai sau khi đoạn diệt tầm và tứ, sống an trú? “Ta không biết vậy, Ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai. Tại đây, các tầm và tứ được đoạn diệt, các vị ấy sau khi đoạn diệt tầm và tứ, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 4Chỗ nào hỷ được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào hỷ được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chứng và trú Thiền thứ ba. Tại đây, hỷ được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 5Chỗ nào xả lạc được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào xả lạc được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ,… chứng và trú Thiền thứ tư. Tại đây, xả lạc được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không giả dối, không lường gạt sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 6Chỗ nào sắc tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào sắc tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý các sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú “Không vô biên xứ”. Ở đây, các sắc tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 7Chỗ nào Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên xứ tưởng một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú “Thức vô biên xứ”. Tại đây, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 8Chỗ nào Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ tưởng một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú “Vô sở hữu xứ”. Tại đây, Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 9Chỗ nào Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Tại đây, Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 10Chỗ nào Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn… chứng và trú Diệt thọ tưởng định”. Tại đây, Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
Này các Tỷ-kheo, đây chín là thứ đệ trú Thiền chứng.
“Navayimā, bhikkhave, anupubbavihārasamāpattiyo desessāmi, taṁ suṇātha …pe…
katamā ca, bhikkhave, nava anupubbavihārasamāpattiyo?
Yattha kāmā nirujjhanti, ye ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha kāmā nirujjhanti, ke ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettha kāmā nirujjhanti, te ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha vitakkavicārā nirujjhanti, ye ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha vitakkavicārā nirujjhanti, ke ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
ettha vitakkavicārā nirujjhanti, te ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha pīti nirujjhati, ye ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha pīti nirujjhati, ke ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
ettha pīti nirujjhati, te ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, ye ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, ke ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
ettha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, te ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha rūpasaññā nirujjhati, ye ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha rūpasaññā nirujjhati, ke ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettha rūpasaññā nirujjhati, te ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, ye ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, ke ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, te ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, ye ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, ke ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, te ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, ye ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, ke ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, te ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, ye ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, ke ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
Ettha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, te ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Imā kho, bhikkhave, nava anupubbavihārasamāpattiyo”ti.
Dutiyaṁ.
“Monks, I will teach you the nine step-by-step dwelling-attainments. Listen & pay close attention. I will speak.”
“As you say, lord,” the monks responded.
The Blessed One said, “And what, monks, are the nine step-by-step dwelling-attainments?
[1] “Wherever sensual resolves cease and those who repeatedly are stopping sensual resolves dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where do sensual resolves cease? And where do those who repeatedly are stopping sensual resolves dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, quite secluded from sensuality, secluded from unskillful mental qualities, enters & remains in the first jhāna: rapture & pleasure born of seclusion, accompanied by directed thought & evaluation. That is where sensual resolves cease, and where those who repeatedly are stopping sensual resolves dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
[2] “Wherever directed thoughts & evaluations cease and those who repeatedly are stopping directed thoughts & evaluations dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where do directed thoughts & evaluations cease? And where do those who repeatedly are stopping directed thoughts & evaluations dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, with the stilling of directed thoughts & evaluations, enters & remains in the second jhāna: rapture & pleasure born of concentration, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance. That is where directed thoughts & evaluations cease, and where those who repeatedly are stopping directed thoughts & evaluations dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
[3] “Wherever rapture ceases and those who repeatedly are stopping rapture dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where does rapture cease? And where do those who repeatedly are stopping rapture dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, with the fading of rapture, remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters & remains in the third jhāna, of which the noble ones declare, “Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding.” That is where rapture ceases, and where those who repeatedly are stopping rapture dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
[4] “Wherever the pleasure of equanimity ceases and those who repeatedly are stopping the pleasure of equanimity dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where does the pleasure of equanimity cease? And where do those who repeatedly are stopping the pleasure of equanimity dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, with the abandoning of pleasure & pain—as with the earlier disappearance of joy & distress—enters & remains in the fourth jhāna: purity of equanimity & mindfulness, neither-pleasure-nor-pain. That is where the pleasure of equanimity ceases, and where those who repeatedly are stopping the pleasure of equanimity dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
[5] “Wherever the perception of form ceases and those who repeatedly are stopping the perception of form dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where does the perception of form cease? And where do those who repeatedly are stopping the perception of form dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, with the complete transcending of perceptions of form, with the disappearance of perceptions of resistance, and not heeding perceptions of diversity, (perceiving,) “Infinite space,” enters & remains in the dimension of the infinitude of space. That is where the perception of form ceases, and where those who repeatedly are stopping the perception of form dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
[6] “Wherever the perception of the infinitude of space ceases and those who repeatedly are stopping the perception of the infinitude of space dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where does the perception of the infinitude of space cease? And where do those who repeatedly are stopping the perception of the infinitude of space dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of space, (perceiving,) “Infinite consciousness,” enters & remains in the dimension of the infinitude of consciousness. That is where the perception of the infinitude of space ceases, and where those who repeatedly are stopping the perception of the infinitude of space dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
[7] “Wherever the perception of the infinitude of consciousness ceases and those who repeatedly are stopping the perception of the infinitude of consciousness dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where does the perception of the infinitude of consciousness cease? And where do those who repeatedly are stopping the perception of the infinitude of consciousness dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of consciousness, (perceiving,) “There is nothing,” enters & remains in the dimension of nothingness. That is where the perception of the infinitude of consciousness ceases, and where those who repeatedly are stopping the perception of the infinitude of consciousness dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
[8] “Wherever the perception of nothingness ceases and those who repeatedly are stopping the perception of nothingness dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where does the perception of nothingness cease? And where do those who repeatedly are stopping the perception of nothingness dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, with the complete transcending of the dimension of nothingness, enters & remains in the dimension of neither perception nor non-perception. That is where the perception of nothingness ceases, and where those who repeatedly are stopping the perception of nothingness dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
[9] “Wherever the perception of the dimension of neither perception nor non-perception ceases and those who repeatedly are stopping the perception of the dimension of neither perception nor non-perception dwell: Surely, I tell you, by that factor those venerable ones are free from hunger, unbound, having crossed over & gone to the far shore.
“Now if someone should say, ‘Where does the perception of the dimension of neither perception nor non-perception cease? And where do those who repeatedly are stopping the perception of the dimension of neither perception nor non-perception dwell? I don’t know that; I don’t see that,’ he should be told, ‘There is the case, friend, where a monk, with the complete transcending of the dimension of neither perception nor non-perception, enters & remains in the cessation of perception & feeling. That is where the perception of the dimension of neither perception nor non-perception ceases, and where those who repeatedly are stopping the perception of the dimension of neither perception nor non-perception dwell.’ Surely, a person without guile or deceit, (saying,) ‘Very good,’ would delight in & approve of that statement. Delighting in & approving of that statement, paying homage & raising his hands palm-to-palm over his heart, he would honor it.
“These, monks, are the nine step-by-step dwelling-attainments.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín Thiền chứng thứ đệ trú này. Hãy lắng nghe… Này các Tỷ-kheo, thế nào là chín thứ đệ trú Thiền chứng?
TTC 2Chỗ nào các dục đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào các dục được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú: “Ta không biết vậy, Ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly các dục… chứng và an trú Thiền thứ nhất. Tại đây, các dục được đoạn diệt, các vị ấy sau khi đoạn diệt các dục, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 3Chỗ nào các tầm và tứ được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt, đoạn diệt tầm và tứ, sống không an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không bỏ dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua , đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào các tầm và tứ được đoạn diệt ? Những ai sau khi đoạn diệt tầm và tứ, sống an trú? “Ta không biết vậy, Ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ… chứng và trú Thiền thứ hai. Tại đây, các tầm và tứ được đoạn diệt, các vị ấy sau khi đoạn diệt tầm và tứ, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 4Chỗ nào hỷ được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào hỷ được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chứng và trú Thiền thứ ba. Tại đây, hỷ được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt hỷ, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 5Chỗ nào xả lạc được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào xả lạc được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ,… chứng và trú Thiền thứ tư. Tại đây, xả lạc được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt xả lạc, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không giả dối, không lường gạt sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 6Chỗ nào sắc tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào sắc tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các chướng ngại tưởng, không tác ý các sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú “Không vô biên xứ”. Ở đây, các sắc tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt sắc tưởng, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 7Chỗ nào Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên xứ tưởng một cách hoàn toàn, biết rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú “Thức vô biên xứ”. Tại đây, Không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy sau khi đoạn diệt Không vô biên xứ tưởng, sống an trú”. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 8Chỗ nào Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ tưởng một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú “Vô sở hữu xứ”. Tại đây, Thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Thức vô biên xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 9Chỗ nào Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Tại đây, Vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Vô sở hữu xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, sau khi tùy hỷ với lời nói “Lành thay” người ấy sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
TTC 10Chỗ nào Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt, và những ai sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú, Ta nói rằng: “Chắc chắn các Tôn giả ấy không có dục ái, được tịch tịnh, đã vượt qua, đã đến bờ bên kia với Thiền chi ấy”. Chỗ nào Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt? Những ai sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú. “Ta không biết vậy, ta không thấy vậy”, ai nói như vậy, người ấy cần được nói như sau: “Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn… chứng và trú Diệt thọ tưởng định”. Tại đây, Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng được đoạn diệt. Các vị ấy, sau khi đoạn diệt Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, sống an trú. Chắc chắn, này các Tỷ-kheo, người không lường gạt, không man trá sẽ hoan hỷ, sẽ tùy hỷ với lời nói “Lành thay”. Sau khi hoan hỷ, tùy hỷ với lời nói “Lành thay” sẽ đảnh lễ, chắp tay và hầu hạ.
Này các Tỷ-kheo, đây chín là thứ đệ trú Thiền chứng.
“Navayimā, bhikkhave, anupubbavihārasamāpattiyo desessāmi, taṁ suṇātha …pe…
katamā ca, bhikkhave, nava anupubbavihārasamāpattiyo?
Yattha kāmā nirujjhanti, ye ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha kāmā nirujjhanti, ke ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettha kāmā nirujjhanti, te ca kāme nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha vitakkavicārā nirujjhanti, ye ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha vitakkavicārā nirujjhanti, ke ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
ettha vitakkavicārā nirujjhanti, te ca vitakkavicāre nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha pīti nirujjhati, ye ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha pīti nirujjhati, ke ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
ettha pīti nirujjhati, te ca pītiṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, ye ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, ke ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
ettha upekkhāsukhaṁ nirujjhati, te ca upekkhāsukhaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha rūpasaññā nirujjhati, ye ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha rūpasaññā nirujjhati, ke ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettha rūpasaññā nirujjhati, te ca rūpasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, ye ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, ke ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma anantaṁ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettha ākāsānañcāyatanasaññā nirujjhati, te ca ākāsānañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, ye ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, ke ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettha viññāṇañcāyatanasaññā nirujjhati, te ca viññāṇañcāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, ye ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, ke ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettha ākiñcaññāyatanasaññā nirujjhati, te ca ākiñcaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Yattha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, ye ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti, ‘addhā te āyasmanto nicchātā nibbutā tiṇṇā pāraṅgatā tadaṅgenā’ti vadāmi.
‘Kattha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, ke ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharanti—
ahametaṁ na jānāmi ahametaṁ na passāmī’ti, iti yo evaṁ vadeyya, so evamassa vacanīyo:
‘idhāvuso, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
Ettha nevasaññānāsaññāyatanasaññā nirujjhati, te ca nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ nirodhetvā nirodhetvā viharantī’ti.
Addhā, bhikkhave, asaṭho amāyāvī ‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinandeyya anumodeyya;
‘sādhū’ti bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā namassamāno pañjaliko payirupāseyya.
Imā kho, bhikkhave, nava anupubbavihārasamāpattiyo”ti.
Dutiyaṁ.