TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
—Này Gia chủ, Ông có bố thí trong gia đình của Ông không?
—Bạch Thế Tôn, trong gia đình của con có bố thí, nhưng chỉ có món ăn thô tệ làm bằng hột gạo bể, và cháo chua.
TTC 2—Này Gia chủ, dầu bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí không cẩn thận, bố thí không có chú tâm, bố thí không tự tay mình, bố thí những vật quăng đi, bố thí không có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm không thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ không có khéo nghe, họ không có lóng tai, họ không có an trú tâm hiểu biết. Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của các nghiệp làm không có cẩn thận.
TTC 3Này Gia chủ, dầu có bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí có cẩn thận, bố thí có chú tâm, bố thí tự tay mình, bố thí những vật không quăng bỏ đi, bố thí có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ có khéo nghe, họ có lóng tai, họ có an trú tâm hiểu biết. Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của việc làm có cẩn thận.
TTC 4Thuở xưa, này Gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velàma. Vị ấy bố thí rộng lớn như sau: Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng và 84.000 cỗ xe, được trải với da sư tử, được trải với da cọp, được trải với da báo, được trải với mềm màu vàng, với những trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng. Vị ấy bố thí 84.000 con bò sữa, cột bằng những sợi dây gai mịn với những thùng sữa bằng bạc. Vị ấy bố thí 84.000 thiếu nữ, trang sức với những bông tai bằng châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 giường nằm trải nệm bằng len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, có đầu gối chân màu đỏ hai phía. Vị ấy bố thí 84.000 thước vải, bằng vài gai mịn màng nhất, bằng vải lụa mịn màng nhất, bằng vải len mịn màng nhất, bằng vải bông mịn màng nhất. Và ai có thể nói về các đồ ăn, đồ uống, loại cứng, loại mềm, các loại đồ ăn nếm và các loại nước đường. “Chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông”.
TTC 5Có thể, này Gia chủ, Ông nghĩ: “Có thể Bà-la-môn Velàma là một người nào khác, vị đã bố thí một cách rộng lớn như vậy”. Này Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy. Chính lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Velàma, chính Ta đã bố thí rộng lớn ấy. Nhưng này Gia chủ, khi bố thí ấy được cho, không có một ai xứng đáng để nhận bố thí. Không có một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nếu có ai bố thí cho một người chánh kiến, bố thí này lớn hơn quả lớn kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có ai bố thí cho 100 người chánh kiến, và có ai bố thí cho một vị Nhất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 người Nhất lai, và có ai bố thí cho một vị Bất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 vị Bất lai, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn hơn, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, và có ai bố thí cho một vị Ðộc Giác Phật, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có người bố thí cho 100 vị Ðộc Giác Phật, có ai bố thí cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ, và có ai xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và Tăng, và có ai với tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu… Và có ai với tâm tịnh tín, chấp nhận học pháp… từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu, và ai tu tập từ tâm giải thoát, cho đến trong khi khoảnh khắc vắt sữa bò, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, có ai bố thí một vị đầy đủ chánh kiến.. và có ai bố thí cho 100 vị đầy đủ chánh kiến.. và có ai bố thí một vị Bất lai… và có ai bố thí trăm vị Bất lai, và có ai bố thí một vị A-la-hán… và có ai bố thí trăm vị A-la-hán… và có ai bố thí một vị Ðộc giác Phật, và có ai bố thí trăm vị Ðộc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng… và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
“Api nu te, gahapati, kule dānaṁ dīyatī”ti?
“Dīyati me, bhante, kule dānaṁ;
tañca kho lūkhaṁ kaṇājakaṁ biḷaṅgadutiyan”ti.
“Lūkhañcepi, gahapati, dānaṁ deti paṇītaṁ vā;
tañca asakkaccaṁ deti, acittīkatvā deti, asahatthā deti, apaviddhaṁ deti, anāgamanadiṭṭhiko deti.
Yattha yattha tassa tassa dānassa vipāko nibbattati, na uḷārāya bhattabhogāya cittaṁ namati, na uḷārāya vatthabhogāya cittaṁ namati, na uḷārāya yānabhogāya cittaṁ namati, na uḷāresu pañcasu kāmaguṇesu bhogāya cittaṁ namati.
Yepissa te honti puttāti vā dārāti vā dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, tepi na sussūsanti na sotaṁ odahanti na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, gahapati, hoti asakkaccaṁ katānaṁ kammānaṁ vipāko.
Lūkhañcepi, gahapati, dānaṁ deti paṇītaṁ vā;
tañca sakkaccaṁ deti, cittīkatvā deti, sahatthā deti, anapaviddhaṁ deti, āgamanadiṭṭhiko deti.
Yattha yattha tassa tassa dānassa vipāko nibbattati, uḷārāya bhattabhogāya cittaṁ namati, uḷārāya vatthabhogāya cittaṁ namati, uḷārāya yānabhogāya cittaṁ namati, uḷāresu pañcasu kāmaguṇesu bhogāya cittaṁ namati.
Yepissa te honti puttāti vā dārāti vā dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, tepi sussūsanti sotaṁ odahanti aññā cittaṁ upaṭṭhapenti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, gahapati, hoti sakkaccaṁ katānaṁ kammānaṁ vipāko.
Bhūtapubbaṁ, gahapati, velāmo nāma brāhmaṇo ahosi.
So evarūpaṁ dānaṁ adāsi mahādānaṁ.
Caturāsīti suvaṇṇapātisahassāni adāsi rūpiyapūrāni, caturāsīti rūpiyapātisahassāni adāsi suvaṇṇapūrāni, caturāsīti kaṁsapātisahassāni adāsi hiraññapūrāni, caturāsīti hatthisahassāni adāsi sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālappaṭicchannāni, caturāsīti rathasahassāni adāsi sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālappaṭicchannāni, caturāsīti dhenusahassāni adāsi dukūlasandhanāni kaṁsūpadhāraṇāni, caturāsīti kaññāsahassāni adāsi āmuttamaṇikuṇḍalāyo, caturāsīti pallaṅkasahassāni adāsi gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni, caturāsīti vatthakoṭisahassāni adāsi khomasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ, ko pana vādo annassa pānassa khajjassa bhojjassa leyyassa peyyassa, najjo maññe vissandanti.
Siyā kho pana te, gahapati, evamassa:
‘añño nūna tena samayena velāmo brāhmaṇo ahosi, so taṁ dānaṁ adāsi mahādānan’ti.
Na kho panetaṁ, gahapati, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Ahaṁ tena samayena velāmo brāhmaṇo ahosiṁ.
Ahaṁ taṁ dānaṁ adāsiṁ mahādānaṁ.
Tasmiṁ kho pana, gahapati, dāne na koci dakkhiṇeyyo ahosi, na taṁ koci dakkhiṇaṁ visodheti.
Yaṁ, gahapati, velāmo brāhmaṇo dānaṁ adāsi mahādānaṁ, yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ bhojeyya, idaṁ tato mahapphalataraṁ.
(…) Yo ca sataṁ diṭṭhisampannānaṁ bhojeyya, yo cekaṁ sakadāgāmiṁ bhojeyya, idaṁ tato mahapphalataraṁ.
(…) Yo ca sataṁ sakadāgāmīnaṁ bhojeyya, yo cekaṁ anāgāmiṁ bhojeyya …pe…
yo ca sataṁ anāgāmīnaṁ bhojeyya, yo cekaṁ arahantaṁ bhojeyya …pe…
yo ca sataṁ arahantānaṁ bhojeyya, yo cekaṁ paccekabuddhaṁ bhojeyya …pe…
yo ca sataṁ paccekabuddhānaṁ bhojeyya, yo ca tathāgataṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ bhojeyya …pe…
yo ca buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ bhojeyya …pe…
yo ca cātuddisaṁ saṅghaṁ uddissa vihāraṁ kārāpeyya …pe…
yo ca pasannacitto buddhañca dhammañca saṅghañca saraṇaṁ gaccheyya …pe…
yo ca pasannacitto sikkhāpadāni samādiyeyya—
pāṇātipātā veramaṇiṁ, adinnādānā veramaṇiṁ, kāmesumicchācārā veramaṇiṁ, musāvādā veramaṇiṁ, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇiṁ, yo ca antamaso gandhohanamattampi mettacittaṁ bhāveyya, (…) idaṁ tato mahapphalataraṁ.
Yañca, gahapati, velāmo brāhmaṇo dānaṁ adāsi mahādānaṁ, yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ diṭṭhisampannānaṁ bhojeyya, yo cekaṁ sakadāgāmiṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ sakadāgāmīnaṁ bhojeyya, yo cekaṁ anāgāmiṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ anāgāmīnaṁ bhojeyya, yo cekaṁ arahantaṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ arahantānaṁ bhojeyya, yo cekaṁ paccekabuddhaṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ paccekabuddhānaṁ bhojeyya, yo ca tathāgataṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ bhojeyya …
yo ca buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ bhojeyya, yo ca cātuddisaṁ saṅghaṁ uddissa vihāraṁ kārāpeyya …
yo ca pasannacitto buddhañca dhammañca saṅghañca saraṇaṁ gaccheyya, yo ca pasannacitto sikkhāpadāni samādiyeyya—
pāṇātipātā veramaṇiṁ …pe… surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇiṁ, yo ca antamaso gandhohanamattampi mettacittaṁ bhāveyya, yo ca accharāsaṅghātamattampi aniccasaññaṁ bhāveyya, idaṁ tato mahapphalataran”ti.
Dasamaṁ.
Sīhanādavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Nādo saupādiseso ca,
koṭṭhikena samiddhinā;
Gaṇḍasaññā kulaṁ mettā,
devatā velāmena cāti.
On one occasion the Blessed One was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Then Anāthapiṇḍika the householder went to the Blessed One and, on arrival, bowed down to him and sat to one side. As he was sitting there, the Blessed One said to him, “Householder, are gifts still given in your family?”
“Gifts are still given in my family, lord, but they are coarse: broken rice cooked with bran, accompanied by pickle brine.”
“Householder, regardless of whether a gift is coarse or refined, if it is given inattentively, disrespectfully, not with one’s own hand, as if throwing it away, with the view that nothing will come of it: Wherever the result of that gift comes to fruition, one’s mind will not incline to the enjoyment of splendid food, will not incline to the enjoyment of splendid clothing, will not incline to the enjoyment of splendid vehicles, will not incline to the enjoyment of the splendid five strings of sensuality. And one’s sons & daughters, slaves, servants, & workers will not listen to one, will not lend ear, will not make their minds attend for the sake of knowledge. Why is that? Because that is the result of inattentive actions.
“Householder, regardless of whether a gift is coarse or refined, if it is given attentively, respectfully, with one’s own hand, not as if throwing it away, with the view that something will come of it: Wherever the result of that gift comes to fruition, one’s mind will incline to the enjoyment of splendid food, will incline to the enjoyment of splendid clothing, will incline to the enjoyment of splendid vehicles, will incline to the enjoyment of the splendid five strings of sensuality. And one’s sons & daughters, slaves, servants, & workers will listen to one, will lend ear, will make their minds attend for the sake of knowledge. Why is that? Because that is the result of attentive actions.
“Once, householder, there was a brahman named Velāma. And this was the nature of the gift, the great gift, he gave: He gave 84,000 gold trays filled with silver, 84,000 silver trays filled with gold, 84,000 copper trays filled with gems. He gave 84,000 elephants with gold ornaments, gold banners, covered with nets of gold thread. He gave 84,000 chariots spread with lion skins, tiger skins, leopard skins, saffron-colored blankets, with gold ornaments, gold banners, covered with nets of gold thread. He gave 84,000 milk cows with tethers of fine jute and copper milk pails. He gave 84,000 maidens adorned with jeweled earrings. He gave 84,000 couches spread with long-fleeced coverlets, white wool coverlets, embroidered coverlets, rugs of kadali-deer hide, each with a canopy above & red cushions on either side. He gave 84,000 lengths of cloth—of finest linen, of finest cotton, of finest silk. To say nothing of the food & drink, staple & non-staple food, lotions & beddings: They flowed, as it were, like rivers.
“Now, householder, if the thought should occur to you, ‘Perhaps it was someone else who at that time was Velāma the brahman, who gave that gift, that great gift,’ that’s not how it should be seen. I was Velāma the brahman at that time. I gave that gift, that great gift. But in that gift there was no one worthy of offerings; no one purified that gift.
“If one were to feed one person consummate in view, that would be more fruitful than the gift, the great gift, that Velāma the brahman gave.
“If one were to feed one once-returner, that would be more fruitful than the gift, the great gift, that Velāma the brahman gave, and if [in addition to that] one were to feed one person consummate in view, and to feed 100 people consummate in view.
“If one were to feed one non-returner, that would be more fruitful than… if one were to feed 100 once-returners.
“If one were to feed one arahant, that would be more fruitful than… if one were to feed 100 non-returners.
“If one were to feed one Private Buddha, that would be more fruitful than… if one were to feed 100 arahants.
“If one were to feed one Tathagata—a worthy one, rightly self-awakened—that would be more fruitful than… if one were to feed 100 Private Buddhas.
“If one were to feed a community of monks headed by the Buddha, that would be more fruitful than… if one were to feed a Tathagata—a worthy one, rightly self-awakened.
“If one were to have a dwelling built and dedicated to the Community of the four directions, that would be more fruitful than… if one were to feed a community of monks headed by the Buddha.
“If one with a confident mind were to go to the Buddha, Dhamma, & Sangha for refuge, that would be more fruitful than… if one were to have a dwelling built and dedicated to the Community of the four directions.
“If one with a confident mind were to undertake the training rules—refraining from taking life, refraining from taking what is not given, refraining from illicit sex, refraining from lying, refraining from distilled & fermented drinks that cause heedlessness—that would be more fruitful than… if one with a confident mind were to go to the Buddha, Dhamma, & Sangha for refuge.
“If one were to develop even just one whiff of a heart of good will, that would be more fruitful than… if one with a confident mind were to undertake the training rules…
“If one were to develop even for just a finger-snap the perception of inconstancy, that would be more fruitful than the gift, the great gift, that Velāma the brahman gave, and [in addition to that] if one were to feed one person… 100 people consummate in view, and were to feed one once-returner… 100 once-returners, and were to feed one non-returner… 100 non-returners, and were to feed one arahant… 100 arahants, and were to feed one Private Buddha… 100 Private Buddhas, and were to feed a Tathagata—a worthy one, rightly self-awakened—and were to feed a community of monks headed by the Buddha, and were to have a dwelling built and dedicated to the Community of the four directions, and with a confident mind were to go to the Buddha, Dhamma, & Sangha for refuge, and with a confident mind were to undertake the training rules—refraining from taking life, refraining from taking what is not given, refraining from illicit sex, refraining from lying, refraining from distilled & fermented drinks that cause heedlessness—and were to develop even just one whiff of a heart of good will.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Rồi Tôn giả Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
—Này Gia chủ, Ông có bố thí trong gia đình của Ông không?
—Bạch Thế Tôn, trong gia đình của con có bố thí, nhưng chỉ có món ăn thô tệ làm bằng hột gạo bể, và cháo chua.
TTC 2—Này Gia chủ, dầu bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí không cẩn thận, bố thí không có chú tâm, bố thí không tự tay mình, bố thí những vật quăng đi, bố thí không có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm không thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm không thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ không có khéo nghe, họ không có lóng tai, họ không có an trú tâm hiểu biết. Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của các nghiệp làm không có cẩn thận.
TTC 3Này Gia chủ, dầu có bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí có cẩn thận, bố thí có chú tâm, bố thí tự tay mình, bố thí những vật không quăng bỏ đi, bố thí có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm thiên về thưởng thức y áo thù diệu, tâm thiên về thưởng thức các cỗ xe thù diệu, tâm thiên về thưởng thức năm dục công đức thù diệu. Và các người con, hay vợ, hay những người phục vụ, hay những người đưa tin, hay những người làm công, họ có khéo nghe, họ có lóng tai, họ có an trú tâm hiểu biết. Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của việc làm có cẩn thận.
TTC 4Thuở xưa, này Gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velàma. Vị ấy bố thí rộng lớn như sau: Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 con voi với đồ trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng và 84.000 cỗ xe, được trải với da sư tử, được trải với da cọp, được trải với da báo, được trải với mềm màu vàng, với những trang sức bằng vàng, với các ngọn cờ bằng vàng, bao trùm với những lưới bằng chỉ vàng. Vị ấy bố thí 84.000 con bò sữa, cột bằng những sợi dây gai mịn với những thùng sữa bằng bạc. Vị ấy bố thí 84.000 thiếu nữ, trang sức với những bông tai bằng châu báu. Vị ấy bố thí 84.000 giường nằm trải nệm bằng len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm khảm với lầu che phía trên, có đầu gối chân màu đỏ hai phía. Vị ấy bố thí 84.000 thước vải, bằng vài gai mịn màng nhất, bằng vải lụa mịn màng nhất, bằng vải len mịn màng nhất, bằng vải bông mịn màng nhất. Và ai có thể nói về các đồ ăn, đồ uống, loại cứng, loại mềm, các loại đồ ăn nếm và các loại nước đường. “Chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông”.
TTC 5Có thể, này Gia chủ, Ông nghĩ: “Có thể Bà-la-môn Velàma là một người nào khác, vị đã bố thí một cách rộng lớn như vậy”. Này Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy. Chính lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Velàma, chính Ta đã bố thí rộng lớn ấy. Nhưng này Gia chủ, khi bố thí ấy được cho, không có một ai xứng đáng để nhận bố thí. Không có một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nếu có ai bố thí cho một người chánh kiến, bố thí này lớn hơn quả lớn kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có ai bố thí cho 100 người chánh kiến, và có ai bố thí cho một vị Nhất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 người Nhất lai, và có ai bố thí cho một vị Bất lai, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho 100 vị Bất lai, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn hơn, và có ai bố thí cho một vị A-la-hán, và có ai bố thí cho một vị Ðộc Giác Phật, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn và có người bố thí cho 100 vị Ðộc Giác Phật, có ai bố thí cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, và có ai bố thí cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ, và có ai xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và Tăng, và có ai với tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu… Và có ai với tâm tịnh tín, chấp nhận học pháp… từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu, và ai tu tập từ tâm giải thoát, cho đến trong khi khoảnh khắc vắt sữa bò, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia. Này Gia chủ, dầu cho Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, có ai bố thí một vị đầy đủ chánh kiến.. và có ai bố thí cho 100 vị đầy đủ chánh kiến.. và có ai bố thí một vị Bất lai… và có ai bố thí trăm vị Bất lai, và có ai bố thí một vị A-la-hán… và có ai bố thí trăm vị A-la-hán… và có ai bố thí một vị Ðộc giác Phật, và có ai bố thí trăm vị Ðộc giác Phật, và có ai bố thí Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác… và có ai bố thí chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, và có ai cho xây dựng một tinh xá cho chúng Tăng trong bốn phương… và có ai với tâm tịnh tín qui y Phật, Pháp và chúng Tăng… và có ai tâm tịnh tín chấp nhận học pháp, từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu… và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
“Api nu te, gahapati, kule dānaṁ dīyatī”ti?
“Dīyati me, bhante, kule dānaṁ;
tañca kho lūkhaṁ kaṇājakaṁ biḷaṅgadutiyan”ti.
“Lūkhañcepi, gahapati, dānaṁ deti paṇītaṁ vā;
tañca asakkaccaṁ deti, acittīkatvā deti, asahatthā deti, apaviddhaṁ deti, anāgamanadiṭṭhiko deti.
Yattha yattha tassa tassa dānassa vipāko nibbattati, na uḷārāya bhattabhogāya cittaṁ namati, na uḷārāya vatthabhogāya cittaṁ namati, na uḷārāya yānabhogāya cittaṁ namati, na uḷāresu pañcasu kāmaguṇesu bhogāya cittaṁ namati.
Yepissa te honti puttāti vā dārāti vā dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, tepi na sussūsanti na sotaṁ odahanti na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, gahapati, hoti asakkaccaṁ katānaṁ kammānaṁ vipāko.
Lūkhañcepi, gahapati, dānaṁ deti paṇītaṁ vā;
tañca sakkaccaṁ deti, cittīkatvā deti, sahatthā deti, anapaviddhaṁ deti, āgamanadiṭṭhiko deti.
Yattha yattha tassa tassa dānassa vipāko nibbattati, uḷārāya bhattabhogāya cittaṁ namati, uḷārāya vatthabhogāya cittaṁ namati, uḷārāya yānabhogāya cittaṁ namati, uḷāresu pañcasu kāmaguṇesu bhogāya cittaṁ namati.
Yepissa te honti puttāti vā dārāti vā dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, tepi sussūsanti sotaṁ odahanti aññā cittaṁ upaṭṭhapenti.
Taṁ kissa hetu?
Evañhetaṁ, gahapati, hoti sakkaccaṁ katānaṁ kammānaṁ vipāko.
Bhūtapubbaṁ, gahapati, velāmo nāma brāhmaṇo ahosi.
So evarūpaṁ dānaṁ adāsi mahādānaṁ.
Caturāsīti suvaṇṇapātisahassāni adāsi rūpiyapūrāni, caturāsīti rūpiyapātisahassāni adāsi suvaṇṇapūrāni, caturāsīti kaṁsapātisahassāni adāsi hiraññapūrāni, caturāsīti hatthisahassāni adāsi sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālappaṭicchannāni, caturāsīti rathasahassāni adāsi sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālappaṭicchannāni, caturāsīti dhenusahassāni adāsi dukūlasandhanāni kaṁsūpadhāraṇāni, caturāsīti kaññāsahassāni adāsi āmuttamaṇikuṇḍalāyo, caturāsīti pallaṅkasahassāni adāsi gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni, caturāsīti vatthakoṭisahassāni adāsi khomasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ, ko pana vādo annassa pānassa khajjassa bhojjassa leyyassa peyyassa, najjo maññe vissandanti.
Siyā kho pana te, gahapati, evamassa:
‘añño nūna tena samayena velāmo brāhmaṇo ahosi, so taṁ dānaṁ adāsi mahādānan’ti.
Na kho panetaṁ, gahapati, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Ahaṁ tena samayena velāmo brāhmaṇo ahosiṁ.
Ahaṁ taṁ dānaṁ adāsiṁ mahādānaṁ.
Tasmiṁ kho pana, gahapati, dāne na koci dakkhiṇeyyo ahosi, na taṁ koci dakkhiṇaṁ visodheti.
Yaṁ, gahapati, velāmo brāhmaṇo dānaṁ adāsi mahādānaṁ, yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ bhojeyya, idaṁ tato mahapphalataraṁ.
(…) Yo ca sataṁ diṭṭhisampannānaṁ bhojeyya, yo cekaṁ sakadāgāmiṁ bhojeyya, idaṁ tato mahapphalataraṁ.
(…) Yo ca sataṁ sakadāgāmīnaṁ bhojeyya, yo cekaṁ anāgāmiṁ bhojeyya …pe…
yo ca sataṁ anāgāmīnaṁ bhojeyya, yo cekaṁ arahantaṁ bhojeyya …pe…
yo ca sataṁ arahantānaṁ bhojeyya, yo cekaṁ paccekabuddhaṁ bhojeyya …pe…
yo ca sataṁ paccekabuddhānaṁ bhojeyya, yo ca tathāgataṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ bhojeyya …pe…
yo ca buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ bhojeyya …pe…
yo ca cātuddisaṁ saṅghaṁ uddissa vihāraṁ kārāpeyya …pe…
yo ca pasannacitto buddhañca dhammañca saṅghañca saraṇaṁ gaccheyya …pe…
yo ca pasannacitto sikkhāpadāni samādiyeyya—
pāṇātipātā veramaṇiṁ, adinnādānā veramaṇiṁ, kāmesumicchācārā veramaṇiṁ, musāvādā veramaṇiṁ, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇiṁ, yo ca antamaso gandhohanamattampi mettacittaṁ bhāveyya, (…) idaṁ tato mahapphalataraṁ.
Yañca, gahapati, velāmo brāhmaṇo dānaṁ adāsi mahādānaṁ, yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ diṭṭhisampannānaṁ bhojeyya, yo cekaṁ sakadāgāmiṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ sakadāgāmīnaṁ bhojeyya, yo cekaṁ anāgāmiṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ anāgāmīnaṁ bhojeyya, yo cekaṁ arahantaṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ arahantānaṁ bhojeyya, yo cekaṁ paccekabuddhaṁ bhojeyya …
yo ca sataṁ paccekabuddhānaṁ bhojeyya, yo ca tathāgataṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ bhojeyya …
yo ca buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ bhojeyya, yo ca cātuddisaṁ saṅghaṁ uddissa vihāraṁ kārāpeyya …
yo ca pasannacitto buddhañca dhammañca saṅghañca saraṇaṁ gaccheyya, yo ca pasannacitto sikkhāpadāni samādiyeyya—
pāṇātipātā veramaṇiṁ …pe… surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇiṁ, yo ca antamaso gandhohanamattampi mettacittaṁ bhāveyya, yo ca accharāsaṅghātamattampi aniccasaññaṁ bhāveyya, idaṁ tato mahapphalataran”ti.
Dasamaṁ.
Sīhanādavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Nādo saupādiseso ca,
koṭṭhikena samiddhinā;
Gaṇḍasaññā kulaṁ mettā,
devatā velāmena cāti.