TTC 1—Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, ưa muốn trang điểm, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có một hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi ấy hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp, người ấy hoan hỷ thỏa mãn: “Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch! “. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như vậy được nhiều lợi ích trong các thiện pháp: “Có phải ta được lợi đắc nội tâm tịnh chỉ, hay ta không được lợi đắc nội tâm tịnh nhỉ? Có phải ta được tăng thượng tuệ pháp quán, hay không được tăng thượng tuệ pháp quán?
TTC 3Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, nhưng ta không được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú nội tâm tịnh chỉ, cần phải nỗ lực để đạt cho được tăng thượng tuệ pháp quán ấy; sau một thời gian, đạt được nội tâm tịnh chỉ và được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được tăng thượng tuệ pháp quán, nhưng không có được nội tâm tịnh chỉ”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú tăng thượng tuệ pháp quán, cần phải nỗ lực để đạt cho được nội tâm tịnh chỉ. Vị ấy sau một thời gian, đạt được tăng thượng tuệ pháp quán và chứng được nội tâm tịnh chỉ.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta không có được nội tâm tịnh chỉ. Ta không có được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đạt cho được các thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đạt cho được các thiện pháp ấy. Vị ấy trong một thời gian khác, đạt được nội tâm tịnh chỉ và đạt được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 6Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, ta có được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, cần phải nỗ lực, chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc nữa.
TTC 7Này các Tỷ kheo, ta nói, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng. Này các Tỳ kheo, Ta cũng nói, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng. Này các Tỳ Kheo, Ta cũng nói, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Ta cũng nói, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Này các Tỳ kheo, Ta cũng nói, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Này các Tỷ kheo. Ta cũng nói, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.
TTC 8Này các Tỳ kheo, Ta nói, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được y áo nào: “Y áo này, được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời y áo như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được y áo nào: “Y áo này, được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời y áo như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 9Này các Tỳ Kheo, Ta nói rằng, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được đồ ăn khất thực nào: “Ðồ ăn khất thực này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời đồ ăn khất thực như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được đồ ăn khất thực nào: “Ðồ ăn khất thực này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời đồ ăn khất thực như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 10Này các Tỳ-Kheo, Ta nói rằng, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được sàng tọa nào: “Sàng tọa này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời sàng tọa như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được sàng tọa nào: “Sàng tọa này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời sàng tọa như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
TTC 11—Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được làng, thị trấn nào: “Làng, thị trấn này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị tổn giảm”, thời làng, thị trấn như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được làng, thị trấn nào: “Làng, thị trấn được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời làng, thị trấn như vậy nên sử dụng.
Này, các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 12Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được quốc độ nào: “Quốc độ này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp tổn giảm”, thời quốc độ như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được quốc độ nào: “Quốc độ này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời quốc độ như vậy nên sử dụng.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 13Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được người nào: “Người này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời người như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được người nào: “Người này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời người như vậy nên sử dụng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
“No ce, bhikkhave, bhikkhu paracittapariyāyakusalo hoti, atha ‘sacittapariyāyakusalo bhavissāmī’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sacittapariyāyakusalo hoti?
Seyyathāpi, bhikkhave, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sace tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tasseva rajassa vā aṅgaṇassa vā pahānāya vāyamati.
No ce tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tenevattamano hoti paripuṇṇasaṅkappo:
‘lābhā vata me, parisuddhaṁ vata me’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇā bahukārā hoti kusalesu dhammesu:
‘lābhī nu khomhi ajjhattaṁ cetosamathassa, na nu khomhi lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa, lābhī nu khomhi adhipaññādhammavipassanāya, na nu khomhi lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti.
Sace, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘lābhīmhi ajjhattaṁ cetosamathassa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā ajjhattaṁ cetosamathe patiṭṭhāya adhipaññādhammavipassanāya yogo karaṇīyo.
So aparena samayena lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘lābhīmhi adhipaññādhammavipassanāya, na lābhī ajjhattaṁ cetosamathassā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā adhipaññādhammavipassanāya patiṭṭhāya ajjhattaṁ cetosamathe yogo karaṇīyo.
So aparena samayena lābhī ceva hoti adhipaññādhammavipassanāya lābhī ca ajjhattaṁ cetosamathassa.
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘na lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, ādittacelo vā ādittasīso vā.
Tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tena bhikkhunā tesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ.
So aparena samayena lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘lābhīmhi ajjhattaṁ cetosamathassa, lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesuyeva kusalesu dhammesu patiṭṭhāya uttari āsavānaṁ khayāya yogo karaṇīyo.
Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
‘Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ:
‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ:
‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ sevitabbaṁ.
‘Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo piṇḍapāto na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo piṇḍapāto sevitabbo.
‘Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ:
‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ:
‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ sevitabbaṁ.
‘Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo gāmanigamo sevitabbo.
‘Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ:
‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo janapadapadeso na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ:
‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo janapadapadeso sevitabbo.
‘Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo puggalo na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo puggalo sevitabbo.
‘Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Catutthaṁ.
SC 1“Bhikkhus, a bhikkhu who is not skilled in the ways of others’ minds should train: ‘I will be skilled in the ways of my own mind.’ It is in this way that you should train yourselves.
SC 2“And how is a bhikkhu skilled in the ways of his own mind? It is just as if a woman or a man—young, youthful, and fond of ornaments—would look at her or his own facial reflection in a clean bright mirror or in a bowl of clear water. If they see any dust or blemish there, they will make an effort to remove it. But if they do not see any dust or blemish there, they will be glad about it, an.v.99 and their wish fulfilled, they will think, ‘How fortunate for me that I’m clean!’
SC 3“So too, bhikkhus, self-examination is very helpful for a bhikkhu to grow in wholesome qualities: ‘Do I gain internal serenity of mind or not? Do I gain the higher wisdom of insight into phenomena or not?’
SC 4(1) “If, by such self-examination, a bhikkhu knows: ‘I gain internal serenity of mind but not the higher wisdom of insight into phenomena,’ he should base himself on internal serenity of mind and make an effort to gain the higher wisdom of insight into phenomena. Then, some time later, he gains both internal serenity of mind and the higher wisdom of insight into phenomena.
SC 5(2) “But if, by such self-examination, he knows: ‘I gain the higher wisdom of insight into phenomena but not internal serenity of mind,’ he should base himself on the higher wisdom of insight into phenomena and make an effort to gain internal serenity of mind. Then, some time later, he gains both the higher wisdom of insight into phenomena and internal serenity of mind.
SC 6(3) “But if, by such self-examination, he knows: ‘I gain neither internal serenity of mind nor the higher wisdom of insight into phenomena,’ he should put forth extraordinary desire, effort, zeal, enthusiasm, indefatigability, mindfulness, and clear comprehension to obtain both those wholesome qualities. Just as one whose clothes or head had caught fire would put forth extraordinary desire, effort, zeal, enthusiasm, indefatigability, mindfulness, and clear comprehension to extinguish the fire on his clothes or head, so that bhikkhu should put forth extraordinary desire, an.v.100 effort, zeal, enthusiasm, indefatigability, mindfulness, and clear comprehension to obtain both those wholesome qualities. Then, some time later, he gains both internal serenity of mind and the higher wisdom of insight into phenomena.
SC 7(4) “But if, by such self-examination, he knows: ‘I gain both internal serenity of mind and the higher wisdom of insight into phenomena,’ he should base himself on those same wholesome qualities and make a further effort to reach the destruction of the taints.
SC 8“Robes, I say, are twofold: to be used and those not to be used. Almsfood too, I say, is twofold: that to be used and that not to be used. Lodgings too, I say, are twofold: those to be used and those not to be used. Villages or towns too, I say, are twofold: those to be resorted to and those not to be resorted to. Countries or regions too, I say, are twofold: those to be resorted to and those not to be resorted to. Persons too, I say, are twofold: those to be associated with and those not to be associated with.
SC 9(5) “When it was said: ‘Robes, I say, are twofold: those to be used and those not to be used,’ for what reason was this said? If one knows of a robe: ‘When I use this robe, unwholesome qualities increase in me and wholesome qualities decline,’ one should not use such a robe. But if one knows of a robe: ‘When I use this robe, unwholesome qualities decline in me and wholesome qualities increase,’ one should use such a robe. When it was said: ‘Robes, I say, are twofold: to be used and not to be used,’ it is because of this that this was said.
SC 10(6) “When it was said: ‘Almsfood too, I say, is twofold: that to be used and that not to be used,’ for what reason was this said? If one knows of some almsfood: ‘When I use this almsfood, unwholesome qualities increase in me and wholesome an.v.101 qualities decline,’ one should not use such almsfood. But if one knows of some almsfood: ‘When I use this almsfood, unwholesome qualities decline in me and wholesome qualities increase,’ one should use such almsfood. When it was said: ‘Almsfood too, I say, is twofold: that to be used and that not to be used,’ it is because of this that this was said.
SC 11(7) “When it was said: ‘Lodgings too, I say, are twofold: those to be used and those not to be used,’ for what reason was this said? If one knows of a lodging: ‘When I use this lodging, unwholesome qualities increase in me and wholesome qualities decline,’ one should not use such a lodging. But if one knows of a lodging: ‘When I use this lodging, unwholesome qualities decline in me and wholesome qualities increase,’ one should use such a lodging. When it was said: ‘Lodgings too, I say, are twofold: those to be used and those not to be used,’ it is because of this that this was said.
SC 12(8) “When it was said: ‘Villages or towns too, I say, are twofold: those to be resorted to and those not to be resorted to,’ for what reason was this said? If one knows of a village or town: ‘When I resort to this village or town, unwholesome qualities increase in me and wholesome qualities decline,’ one should not resort to such a village or town. But if one knows of a village or town: ‘When I resort to this village or town, unwholesome qualities decline in me and wholesome qualities increase,’ one should resort to such a village or town. When it was said: ‘Villages or towns too, I say, are twofold: those to be resorted to and those not to be resorted to,’ it is because of this that this was said.
SC 13(9) “When it was said: ‘Countries or regions too, I say, are twofold: those to be resorted to and those not to be resorted to,’ for what reason was this said? If one knows of a country or region: ‘When I resort to this country or region, unwholesome qualities increase in me an.v.102 and wholesome qualities decline,’ one should not resort to such a country or region. But if one knows of a country or region: ‘When I resort to this country or region, unwholesome qualities decline in me and wholesome qualities increase,’ one should resort to such a country or region. When it was said: ‘Countries or regions too, I say, are twofold: those to be resorted to and those not to be resorted to,’ it is because of this that this was said.”
SC 14(10) “When it was said: ‘Persons too, I say, are twofold: those to be associated with and those not to be associated with,’ for what reason was this said? If one knows of a person: ‘When I associate with this person, unwholesome qualities increase in me and wholesome qualities decline,’ one should not associate with such a person. But if one knows of a person: ‘When I associate with this person, unwholesome qualities decline in me and wholesome qualities increase,’ one should associate with such a person. When it was said: ‘Persons too, I say, are twofold: those to be associated with and those not to be associated with,’ it is because of this that this was said.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm của người khác, thời cũng phải nguyện rằng: “Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, ưa muốn trang điểm, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có một hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi ấy hay dấu nhớp ấy. Nếu không thấy hột bụi hay dấu nhớp, người ấy hoan hỷ thỏa mãn: “Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch! “. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như vậy được nhiều lợi ích trong các thiện pháp: “Có phải ta được lợi đắc nội tâm tịnh chỉ, hay ta không được lợi đắc nội tâm tịnh nhỉ? Có phải ta được tăng thượng tuệ pháp quán, hay không được tăng thượng tuệ pháp quán?
TTC 3Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, nhưng ta không được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú nội tâm tịnh chỉ, cần phải nỗ lực để đạt cho được tăng thượng tuệ pháp quán ấy; sau một thời gian, đạt được nội tâm tịnh chỉ và được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta có được tăng thượng tuệ pháp quán, nhưng không có được nội tâm tịnh chỉ”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi an trú tăng thượng tuệ pháp quán, cần phải nỗ lực để đạt cho được nội tâm tịnh chỉ. Vị ấy sau một thời gian, đạt được tăng thượng tuệ pháp quán và chứng được nội tâm tịnh chỉ.
TTC 5Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát, biết như sau: “Ta không có được nội tâm tịnh chỉ. Ta không có được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đạt cho được các thiện pháp. Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đạt cho được các thiện pháp ấy. Vị ấy trong một thời gian khác, đạt được nội tâm tịnh chỉ và đạt được tăng thượng tuệ pháp quán.
TTC 6Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi quán sát biết như sau: “Ta có được nội tâm tịnh chỉ, ta có được tăng thượng tuệ pháp quán”, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, cần phải nỗ lực, chú tâm để đoạn diệt các lậu hoặc nữa.
TTC 7Này các Tỷ kheo, ta nói, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng. Này các Tỳ kheo, Ta cũng nói, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng. Này các Tỳ Kheo, Ta cũng nói, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Ta cũng nói, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Này các Tỳ kheo, Ta cũng nói, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.. Này các Tỷ kheo. Ta cũng nói, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng.
TTC 8Này các Tỳ kheo, Ta nói, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được y áo nào: “Y áo này, được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời y áo như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được y áo nào: “Y áo này, được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời y áo như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, y có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 9Này các Tỳ Kheo, Ta nói rằng, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được đồ ăn khất thực nào: “Ðồ ăn khất thực này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời đồ ăn khất thực như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được đồ ăn khất thực nào: “Ðồ ăn khất thực này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời đồ ăn khất thực như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, đồ ăn khất thực có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 10Này các Tỳ-Kheo, Ta nói rằng, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được sàng tọa nào: “Sàng tọa này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời sàng tọa như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được sàng tọa nào: “Sàng tọa này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời sàng tọa như vậy nên sử dụng.
Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, sàng tọa có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
TTC 11—Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được làng, thị trấn nào: “Làng, thị trấn này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị tổn giảm”, thời làng, thị trấn như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được làng, thị trấn nào: “Làng, thị trấn được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời làng, thị trấn như vậy nên sử dụng.
Này, các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, làng, thị trấn có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 12Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được quốc độ nào: “Quốc độ này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp tổn giảm”, thời quốc độ như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được quốc độ nào: “Quốc độ này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng”, thời quốc độ như vậy nên sử dụng.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, quốc độ có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 13Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Ở đây, nếu biết được người nào: “Người này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm”, thời người như vậy không nên sử dụng. Ở đây, nếu biết được người nào: “Người này được ta sử dụng, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng”, thời người như vậy nên sử dụng. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, người có hai loại: nên sử dụng và không nên sử dụng, như vậy được nói đến. Do duyên này được nói đến như vậy.
“No ce, bhikkhave, bhikkhu paracittapariyāyakusalo hoti, atha ‘sacittapariyāyakusalo bhavissāmī’ti—
evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sacittapariyāyakusalo hoti?
Seyyathāpi, bhikkhave, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sace tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tasseva rajassa vā aṅgaṇassa vā pahānāya vāyamati.
No ce tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tenevattamano hoti paripuṇṇasaṅkappo:
‘lābhā vata me, parisuddhaṁ vata me’ti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇā bahukārā hoti kusalesu dhammesu:
‘lābhī nu khomhi ajjhattaṁ cetosamathassa, na nu khomhi lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa, lābhī nu khomhi adhipaññādhammavipassanāya, na nu khomhi lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti.
Sace, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘lābhīmhi ajjhattaṁ cetosamathassa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā ajjhattaṁ cetosamathe patiṭṭhāya adhipaññādhammavipassanāya yogo karaṇīyo.
So aparena samayena lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘lābhīmhi adhipaññādhammavipassanāya, na lābhī ajjhattaṁ cetosamathassā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā adhipaññādhammavipassanāya patiṭṭhāya ajjhattaṁ cetosamathe yogo karaṇīyo.
So aparena samayena lābhī ceva hoti adhipaññādhammavipassanāya lābhī ca ajjhattaṁ cetosamathassa.
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘na lābhī ajjhattaṁ cetosamathassa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ.
Seyyathāpi, bhikkhave, ādittacelo vā ādittasīso vā.
Tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tena bhikkhunā tesaṁyeva kusalānaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya adhimatto chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca karaṇīyaṁ.
So aparena samayena lābhī ceva hoti ajjhattaṁ cetosamathassa lābhī ca adhipaññādhammavipassanāya.
Sace pana, bhikkhave, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti:
‘lābhīmhi ajjhattaṁ cetosamathassa, lābhī adhipaññādhammavipassanāyā’ti, tena, bhikkhave, bhikkhunā tesuyeva kusalesu dhammesu patiṭṭhāya uttari āsavānaṁ khayāya yogo karaṇīyo.
Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampi.
‘Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ:
‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā cīvaraṁ:
‘idaṁ kho me cīvaraṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ cīvaraṁ sevitabbaṁ.
‘Cīvarampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo piṇḍapāto na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo piṇḍapāto sevitabbo.
‘Piṇḍapātampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ:
‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ na sevitabbaṁ.
Tattha yaṁ jaññā senāsanaṁ:
‘idaṁ kho me senāsanaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ senāsanaṁ sevitabbaṁ.
‘Senāsanampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo gāmanigamo sevitabbo.
‘Gāmanigamampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ:
‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo janapadapadeso na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā janapadapadesaṁ:
‘imaṁ kho me janapadapadesaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo janapadapadeso sevitabbo.
‘Janapadapadesampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo puggalo na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo puggalo sevitabbo.
‘Puggalampāhaṁ, bhikkhave, duvidhena vadāmi—
sevitabbampi asevitabbampī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Catutthaṁ.