—Này các Tỷ-kheo, đây được xem là khóc than trong giới luật bậc Thánh, tức là ca vịnh. Này các Tỷ-kheo, đây được xem là điên loạn trong giới luật bậc Thánh, tức là múa nhảy. Này các Tỷ-kheo, đây được xem là trẻ con trong giới luật bậc Thánh, tức là cười quá đáng để lộ cả răng. Do luật này, này các Tỷ-kheo, hãy phá cây cầu đi đến hát. Hãy phá cây cầu đi đến múa nhảy. Thật là vừa đủ nếu các Thầy được hoan hỷ đúng pháp, mỉm cười để tỏ là các Thầy được hoan hỷ.
“Ruṇṇamidaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yadidaṁ gītaṁ.
Ummattakamidaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yadidaṁ naccaṁ.
Komārakamidaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yadidaṁ ativelaṁ dantavidaṁsakahasitaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, setughāto gīte, setughāto nacce, alaṁ vo dhammappamoditānaṁ sataṁ sitaṁ sitamattāyā”ti.
Pañcamaṁ.
“Singing is regarded as wailing in the training of the Noble One.
Dancing is regarded as madness.
Too much laughter, showing the teeth, is regarded as childish.
So break off singing and dancing; and when you’re appropriately pleased, it’s enough to simply smile.”
—Này các Tỷ-kheo, đây được xem là khóc than trong giới luật bậc Thánh, tức là ca vịnh. Này các Tỷ-kheo, đây được xem là điên loạn trong giới luật bậc Thánh, tức là múa nhảy. Này các Tỷ-kheo, đây được xem là trẻ con trong giới luật bậc Thánh, tức là cười quá đáng để lộ cả răng. Do luật này, này các Tỷ-kheo, hãy phá cây cầu đi đến hát. Hãy phá cây cầu đi đến múa nhảy. Thật là vừa đủ nếu các Thầy được hoan hỷ đúng pháp, mỉm cười để tỏ là các Thầy được hoan hỷ.
“Ruṇṇamidaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yadidaṁ gītaṁ.
Ummattakamidaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yadidaṁ naccaṁ.
Komārakamidaṁ, bhikkhave, ariyassa vinaye yadidaṁ ativelaṁ dantavidaṁsakahasitaṁ.
Tasmātiha, bhikkhave, setughāto gīte, setughāto nacce, alaṁ vo dhammappamoditānaṁ sataṁ sitaṁ sitamattāyā”ti.
Pañcamaṁ.