TTC 1Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ tu sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với Tôn giả Ananda:
TTC 2—Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai? “ Puràna, thân phụ của con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu sanh với thân ở Tusità ( Ðâu-suất)”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”?
—Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.
TTC 3Tôn giả Ananda sau khi nhận đồ ăn khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng con đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với con: “Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”. Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”? “Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà: “Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn”.
—Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là sáu?
TTC 4—Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị ấy nghe Pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập vào tri kiến, không chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 5Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị ấy nghe Pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, có chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi về thối đọa. Ở đây, này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: “Những pháp ấy của vị này là như vậy, những pháp ấy của vị kia là như vậy; làm sao trong những hạng người này, có người hạ liệt, có người là thắng diệu? Và do sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài. Ở đây, này Ananda, hạng người này, khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có là người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananada, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người, hay là người như Ta.
TTC 6Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 7Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, có chứng được thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa…
TTC 8Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 9Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên. Với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, Này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: “Những pháp ấy của vị này là như vậy; những pháp ấy của vị kia là như vậy. Làm sao trong những hạng người là hạ liệt, cò người là thắng diệu?” Và sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài.
Ở đây, này Ananda, hạng người này khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananda, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người này hay là người như Ta.
Và này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thiếu sót một chi phần.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho migasālā upāsikā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho migasālā upāsikā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ?
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā.
So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Petteyyopi me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho.
Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan”ti?
“Evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan”ti.
Atha kho āyasmā ānando migasālāya upāsikāya nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ānando pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ.
Atha kho, bhante, migasālā upāsikā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho, bhante, migasālā upāsikā maṁ etadavoca:
‘kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ.
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā.
So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Petteyyopi me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho.
Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, migasālaṁ upāsikaṁ etadavocaṁ:
‘evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan’”ti.
“Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariyañāṇe?
Chayime, ānanda, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cha?
Idhānanda, ekacco puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti no visesāya, hānagāmīyeva hoti no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti no hānāya, visesagāmīyeva hoti no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti:
‘imassapi teva dhammā aparassapi teva dhammā, kasmā tesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti.
Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena, tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Taṁ kissa hetu?
Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati,
tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha;
mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha.
Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto.
Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ, yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa lobhadhammā uppajjanti.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti no visesāya, hānagāmīyeva hoti no visesagāmī.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa lobhadhammā uppajjanti.
Tassa savanenapi kataṁ hoti …pe…
no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti.
Tassa savanenapi akataṁ hoti …pe… sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti no visesāya, hānagāmīyeva hoti no visesagāmī.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti no hānāya, visesagāmīyeva hoti no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti:
‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā tesaṁ eko hīno, eko paṇīto’ti?
Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Tatrānanda, yassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti, tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Taṁ kissa hetu?
Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati.
Tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha;
mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha.
Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto.
Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ, yo vā panassa mādiso.
Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariyañāṇe.
Ime kho, ānanda, cha puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Yathārūpena, ānanda, sīlena purāṇo samannāgato ahosi, tathārūpena sīlena isidatto samannāgato abhavissa. Nayidha purāṇo isidattassa gatimpi aññassa.
Yathārūpāya ca, ānanda, paññāya isidatto samannāgato ahosi, tathārūpāya paññāya purāṇo samannāgato abhavissa. Nayidha isidatto purāṇassa gatimpi aññassa.
Iti kho, ānanda, ime puggalā ubho ekaṅgahīnā”ti.
Dutiyaṁ.
Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the laywoman Migasālā, where he sat on the seat spread out.
Then the laywoman Migasālā went up to Ānanda, bowed, sat down to one side, and said to him,
“Honorable Ānanda, how on earth are we supposed to understand the teaching taught by the Buddha, when the chaste and the unchaste are both reborn in exactly the same place in the next life?
My father Purāṇa was chaste, set apart, avoiding the vulgar act of sex.
When he passed away the Buddha declared that, since he was a once-returner, he was reborn in the host of joyful gods.
But my uncle Isidatta was not chaste; he lived content with his wife.
When he passed away the Buddha declared that, since he was also a once-returner, he was reborn in the host of joyful gods.
How on earth are we supposed to understand the teaching taught by the Buddha, when the chaste and the unchaste are both reborn in exactly the same place in the next life?”
“You’re right, sister, but that’s how the Buddha declared it.”
Then Ānanda, after receiving almsfood at Migasālā’s home, rose from his seat and left.
Then after the meal, on his return from almsround, Ānanda went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
“Ānanda, who is this laywoman Migasālā, a foolish incompetent aunty, with an aunty’s wit? And who is it that knows how to assess individual persons?
These six individuals are found in the world.
What six?
Take a certain individual who is gentle and pleasant to be with. And spiritual companions enjoy living together with them.
And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
Take another individual who is gentle and pleasant to be with. And spiritual companions enjoy living together with them.
And they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
Judgmental people compare them, saying:
‘This one has just the same qualities as the other, so why is one worse and one better?’
This will be for their lasting harm and suffering.
In this case, the individual who is gentle … and has listened, learned, comprehended theoretically, and found temporary freedom
is better and finer than the other individual.
Why is that?
Because the stream of the teaching carries them along.
But who knows the difference between them except a Realized One?
So, Ānanda, don’t be judgmental about individuals.
Don’t pass judgment on individuals.
Those who pass judgment on individuals harm themselves.
I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Take another individual who is angry and conceited, and from time to time has greedy thoughts.
And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
Take another individual who is angry and conceited, and from time to time has greedy thoughts. …
Because the stream of the teaching carries them along. …
When their body breaks up, after death, they’re headed for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
Judgmental people compare them …
I, or someone like me, may pass judgment on people.
Take another individual who is angry and conceited, and from time to time has the impulse to speak inappropriately.
And they’ve not listened or learned or penetrated theoretically or found even temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a lower place, not a higher. They’re going to a lower place, not a higher.
Take another individual who is angry and conceited, and from time to time has the impulse to speak inappropriately.
But they’ve listened and learned and penetrated theoretically and found temporary freedom.
When their body breaks up, after death, they depart for a higher place, not a lower. They’re going to a higher place, not a lower.
Judgmental people compare them, saying:
‘This one has just the same qualities as the other, so why is one worse and one better?’
This will be for their lasting harm and suffering.
In this case, the individual who is angry and conceited, but has listened, learned, comprehended theoretically, and found temporary freedom
is better and finer than the other individual.
Why is that?
Because the stream of the teaching carries them along.
But who knows the difference between them except a Realized One?
So, Ānanda, don’t be judgmental about individuals.
Don’t pass judgment on individuals.
Those who pass judgment on individuals harm themselves.
I, or someone like me, may pass judgment on individuals.
Who is this laywoman Migasālā, a foolish incompetent aunty, with an aunty’s wit? And who is it that knows how to assess individual persons?
These six individuals are found in the world.
If Isidatta had achieved Purāṇa’s level of ethical conduct, Purāṇa could not have even known Isidatta’s destination.
And if Purāṇa had achieved Isidatta’s level of wisdom, Isidatta could not have even known Purāṇa’s destination.
So both individuals were lacking in one respect.”
TTC 1Rồi Tôn giả Ananda vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ tu sĩ Migasàlà; sau khi đến, ngồi trên ghế đã soạn sẵn. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với Tôn giả Ananda:
TTC 2—Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai? “ Puràna, thân phụ của con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu sanh với thân ở Tusità ( Ðâu-suất)”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”?
—Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn.
TTC 3Tôn giả Ananda sau khi nhận đồ ăn khất thực tại nhà của nữ cư sĩ Migasàlà, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi. Rồi Tôn giả Ananda, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng con đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của nữ cư sĩ Migasàlà, sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Nữ cư sĩ Migasàlà đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Migasàlà thưa với con: “Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Thế Tôn tuyên thuyết (nói rằng): “Cả hai sống Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”. Puràna thân phụ con, thưa Tôn giả, sống Phạm hạnh, sống biệt lập, tránh xa dâm dục hạ liệt, khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Còn Isidatta, cậu của con, thưa Tôn giả, sống không Phạm hạnh, tự bằng lòng với vợ mình, sau khi mệnh chung, được Thế Tôn trả lời: “Là bậc Dự lưu, sanh với thân ở Tusità”. Như thế nào, thế nào, thưa Tôn giả Ananda, cần phải hiểu pháp này do Phạm hạnh và sống không Phạm hạnh đều đồng đẳng về sanh thú trong tương lai”? “Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con nói với nữ cư sĩ Migasàlà: “Này Chị, như vậy là câu trả lời của Thế Tôn”.
—Nhưng này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể hiểu biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là sáu?
TTC 4—Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị ấy nghe Pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập vào tri kiến, không chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 5Ở đây, này Ananda, có người khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị ấy nghe Pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập vào tri kiến, có chứng đắc thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi về thối đọa. Ở đây, này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: “Những pháp ấy của vị này là như vậy, những pháp ấy của vị kia là như vậy; làm sao trong những hạng người này, có người hạ liệt, có người là thắng diệu? Và do sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài. Ở đây, này Ananda, hạng người này, khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có là người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananada, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người, hay là người như Ta.
TTC 6Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi về thù thắng.
TTC 7Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng các tham pháp khởi lên; với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, có chứng được thời giải thoát. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa…
TTC 8Nhưng ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên; với người này, nghe pháp không có tác động, học nhiều không có tác động, không thể nhập tri kiến, không chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thối đọa, không hướng về thù thắng, chỉ đi đến thối đọa, không đi đến thù thắng.
TTC 9Ở đây, này Ananda, có hạng người đã chinh phục được phẫn nộ và kiêu mạn, nhưng thỉnh thoảng khẩu hành khởi lên. Với người này, nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, có thể nhập tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này sau khi thân hoại mạng chung hướng về thù thắng, không hướng về thối đọa, chỉ đi đến thù thắng, không đi đến thối đọa. Ở đây, Này Ananda, những kẻ đo lường đo lường như sau: “Những pháp ấy của vị này là như vậy; những pháp ấy của vị kia là như vậy. Làm sao trong những hạng người là hạ liệt, cò người là thắng diệu?” Và sự đo lường ấy, này Ananda, đối với những người đo lường là không hạnh phúc, là đau khổ lâu dài.
Ở đây, này Ananda, hạng người này khéo tự chế ngự, dễ chung sống, các đồng Phạm hạnh hoan hỷ sống chung. Vị này nghe pháp có tác động, học nhiều có tác động, thể nhập được vào tri kiến, chứng được thời giải thoát. Hạng người này, này Ananda, so sánh với hạng người trước là tiến bộ hơn, là thắng diệu hơn. Vì cớ sao? Vì dòng pháp đưa người này ra phía trước. Nhưng ai ngoài Như Lai có thể biết được sự khác biệt? Do vậy, này Ananda, chớ có làm người đo lường các hạng người. Chớ có lấy sự đo lường của các hạng người. Này Ananda, tự đào hố cho mình là người đi lấy sự đo lường của các hạng người. Chỉ có Ta, này Ananda, mới có thể lấy sự đo lường của các hạng người này hay là người như Ta.
Và này Ananda, ai là nữ cư sĩ Migasàlà, lại ngu si, kém thông minh, với thân như bà mẹ, với trí như bà mẹ, để có thể biết sự thắng liệt giữa các người? Này Ananda, có sáu hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Giới như thế nào, này Ananda, Puràna được thành tựu, giới ấy Isidatta chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Puràna có sanh thú khác với sanh thú của Isidatta. Tuệ như thế nào, này Ananda, Isidatta được thành tựu, tuệ ấy Puràna chưa thành tựu. Do vậy ở đây, Isidatta có sanh thú khác với sanh thú của Puràna. Như vậy, này Ananda, cả hai người này đều có thiếu sót một chi phần.
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho migasālā upāsikā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho migasālā upāsikā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ?
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā.
So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmī satto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Petteyyopi me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho.
Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan”ti?
“Evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan”ti.
Atha kho āyasmā ānando migasālāya upāsikāya nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ānando pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena migasālāya upāsikāya nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ.
Atha kho, bhante, migasālā upāsikā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho, bhante, migasālā upāsikā maṁ etadavoca:
‘kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyaṁ.
Pitā me, bhante, purāṇo brahmacārī ahosi ārācārī virato methunā gāmadhammā.
So kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Petteyyopi me, bhante, isidatto abrahmacārī ahosi sadārasantuṭṭho.
Sopi kālaṅkato bhagavatā byākato sakadāgāmipatto tusitaṁ kāyaṁ upapannoti.
Kathaṁ kathaṁ nāmāyaṁ, bhante ānanda, bhagavatā dhammo desito aññeyyo, yatra hi nāma brahmacārī ca abrahmacārī ca ubho samasamagatikā bhavissanti abhisamparāyan’ti?
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, migasālaṁ upāsikaṁ etadavocaṁ:
‘evaṁ kho panetaṁ, bhagini, bhagavatā byākatan’”ti.
“Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariyañāṇe?
Chayime, ānanda, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cha?
Idhānanda, ekacco puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti no visesāya, hānagāmīyeva hoti no visesagāmī.
Idha panānanda, ekacco puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti no hānāya, visesagāmīyeva hoti no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti:
‘imassapi teva dhammā aparassapi teva dhammā, kasmā tesaṁ eko hīno eko paṇīto’ti.
Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Tatrānanda, yvāyaṁ puggalo sorato hoti sukhasaṁvāso, abhinandanti sabrahmacārī ekattavāsena, tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Taṁ kissa hetu?
Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati,
tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha;
mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha.
Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto.
Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ, yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa lobhadhammā uppajjanti.
Tassa savanenapi akataṁ hoti, bāhusaccenapi akataṁ hoti, diṭṭhiyāpi appaṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti no visesāya, hānagāmīyeva hoti no visesagāmī.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa lobhadhammā uppajjanti.
Tassa savanenapi kataṁ hoti …pe…
no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti …pe…
yo vā panassa mādiso.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti.
Tassa savanenapi akataṁ hoti …pe… sāmāyikampi vimuttiṁ na labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā hānāya pareti no visesāya, hānagāmīyeva hoti no visesagāmī.
Idha panānanda, ekaccassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti.
Tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
So kāyassa bhedā paraṁ maraṇā visesāya pareti no hānāya, visesagāmīyeva hoti no hānagāmī.
Tatrānanda, pamāṇikā pamiṇanti:
‘imassapi teva dhammā, aparassapi teva dhammā. Kasmā tesaṁ eko hīno, eko paṇīto’ti?
Tañhi tesaṁ, ānanda, hoti dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Tatrānanda, yassa puggalassa kodhamāno adhigato hoti, samayena samayañcassa vacīsaṅkhārā uppajjanti, tassa savanenapi kataṁ hoti, bāhusaccenapi kataṁ hoti, diṭṭhiyāpi paṭividdhaṁ hoti, sāmāyikampi vimuttiṁ labhati.
Ayaṁ, ānanda, puggalo amunā purimena puggalena abhikkantataro ca paṇītataro ca.
Taṁ kissa hetu?
Imaṁ hānanda, puggalaṁ dhammasoto nibbahati.
Tadantaraṁ ko jāneyya aññatra tathāgatena.
Tasmātihānanda, mā puggalesu pamāṇikā ahuvattha;
mā puggalesu pamāṇaṁ gaṇhittha.
Khaññati hānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇhanto.
Ahaṁ vā, ānanda, puggalesu pamāṇaṁ gaṇheyyaṁ, yo vā panassa mādiso.
Kā cānanda, migasālā upāsikā bālā abyattā ammakā ammakapaññā, ke ca purisapuggalaparopariyañāṇe.
Ime kho, ānanda, cha puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Yathārūpena, ānanda, sīlena purāṇo samannāgato ahosi, tathārūpena sīlena isidatto samannāgato abhavissa. Nayidha purāṇo isidattassa gatimpi aññassa.
Yathārūpāya ca, ānanda, paññāya isidatto samannāgato ahosi, tathārūpāya paññāya purāṇo samannāgato abhavissa. Nayidha isidatto purāṇassa gatimpi aññassa.
Iti kho, ānanda, ime puggalā ubho ekaṅgahīnā”ti.
Dutiyaṁ.