TTC 1—Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ có lòng từ mẫn đối với các gia chủ. Thế nào là năm?
TTC 2Khích lệ tăng thượng giới; khiến chúng sống theo gương pháp; khi đến thăm người bệnh, an trú niệm cho người bệnh như sau: “Các vị hãy an trú niệm vào hướng đến quả A-la-hán”; khi đại chúng Tỷ-kheo đi đến từ nhiều địa phương khác nhau, vị ấy nói với các gia chủ đi đến như sau: “Nay đại chúng Tỷ-kheo đã đến từ nhiều địa phương khác nhau. Các vị hãy làm các phước đức. Nay là thời làm các phước đức”; họ có cúng dường các món ăn gì, hoặc thô hoặc tế, tự mình thọ dụng, không làm cho của tín thí rơi rớt.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ có lòng từ mẫn đối với các gia chủ.
“Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato āvāsiko bhikkhu gihīnaṁ anukampati.
Katamehi pañcahi?
Adhisīle samādapeti;
dhammadassane niveseti;
gilānake upasaṅkamitvā satiṁ uppādeti:
‘arahaggataṁ āyasmanto satiṁ upaṭṭhāpethā’ti;
mahā kho pana bhikkhusaṅgho abhikkanto nānāverajjakā bhikkhū gihīnaṁ upasaṅkamitvā āroceti:
‘mahā kho, āvuso, bhikkhusaṅgho abhikkanto nānāverajjakā bhikkhū, karotha puññāni, samayo puññāni kātun’ti;
yaṁ kho panassa bhojanaṁ denti lūkhaṁ vā paṇītaṁ vā taṁ attanā paribhuñjati, saddhādeyyaṁ na vinipāteti.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato āvāsiko bhikkhu gihīnaṁ anukampatī”ti.
Pañcamaṁ.
“Mendicants, a resident mendicant with five qualities shows sympathy to the lay people.
What five?
They encourage them in higher ethics.
They equip them to see the truth of the teachings.
When they are sick, they go to them and prompt their mindfulness, saying:
‘Establish your mindfulness, good fellows, in what is worthy.’
When a large mendicant Saṅgha is arriving with mendicants from abroad, they go to the lay people and announce:
‘A large mendicant Saṅgha is arriving with mendicants from abroad. Make merit! Now is the time to make merit!’
And they eat whatever food they give them, coarse or fine, not wasting a gift given in faith.
A resident mendicant with these five qualities shows sympathy to the lay people.”
TTC 1—Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ có lòng từ mẫn đối với các gia chủ. Thế nào là năm?
TTC 2Khích lệ tăng thượng giới; khiến chúng sống theo gương pháp; khi đến thăm người bệnh, an trú niệm cho người bệnh như sau: “Các vị hãy an trú niệm vào hướng đến quả A-la-hán”; khi đại chúng Tỷ-kheo đi đến từ nhiều địa phương khác nhau, vị ấy nói với các gia chủ đi đến như sau: “Nay đại chúng Tỷ-kheo đã đến từ nhiều địa phương khác nhau. Các vị hãy làm các phước đức. Nay là thời làm các phước đức”; họ có cúng dường các món ăn gì, hoặc thô hoặc tế, tự mình thọ dụng, không làm cho của tín thí rơi rớt.
Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ có lòng từ mẫn đối với các gia chủ.
“Pañcahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato āvāsiko bhikkhu gihīnaṁ anukampati.
Katamehi pañcahi?
Adhisīle samādapeti;
dhammadassane niveseti;
gilānake upasaṅkamitvā satiṁ uppādeti:
‘arahaggataṁ āyasmanto satiṁ upaṭṭhāpethā’ti;
mahā kho pana bhikkhusaṅgho abhikkanto nānāverajjakā bhikkhū gihīnaṁ upasaṅkamitvā āroceti:
‘mahā kho, āvuso, bhikkhusaṅgho abhikkanto nānāverajjakā bhikkhū, karotha puññāni, samayo puññāni kātun’ti;
yaṁ kho panassa bhojanaṁ denti lūkhaṁ vā paṇītaṁ vā taṁ attanā paribhuñjati, saddhādeyyaṁ na vinipāteti.
Imehi kho, bhikkhave, pañcahi dhammehi samannāgato āvāsiko bhikkhu gihīnaṁ anukampatī”ti.
Pañcamaṁ.