—Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của bố thí. Thế nào là năm? Ðược nhiều người ái mộ, ưa thích; được bậc Thiện nhân, Chân nhân thân cận; tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi; không có sai lệch pháp của người gia chủ; khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của bố thí.
Người cho được ái kính,
Sở hành là hiền thiện,
Bậc Hiền thường thân cận,
Sống Phạm hạnh chế ngự.
Thuyết pháp người bố thí,
Ðưa đến khổ đoạn diệt,
Vị ấy biết được pháp,
Lậu hoặc được tịch tịnh.
“Pañcime, bhikkhave, dāne ānisaṁsā.
Katame pañca?
Bahuno janassa piyo hoti manāpo;
santo sappurisā bhajanti;
kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati;
gihidhammā anapagato hoti;
kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Ime kho, bhikkhave, pañca dāne ānisaṁsāti.
Dadamāno piyo hoti,
sataṁ dhammaṁ anukkamaṁ;
Santo naṁ sadā bhajanti,
saññatā brahmacārayo.
Te tassa dhammaṁ desenti,
Sabbadukkhāpanūdanaṁ;
Yaṁ so dhammaṁ idhaññāya,
Parinibbāti anāsavo”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these five benefits of giving. What five? (1) One is dear and agreeable to many people. (2) Good persons resort to one. (3) One acquires a good reputation. (4) One is not deficient in the layperson’s duties. (5) With the breakup of the body, after death, one is reborn in a good destination, in a heavenly world. These are the five benefits in giving.”
SC 2By giving, one becomes dear,
one follows the duty of the good;
the good self-controlled monks
always resort to one.
SC 3They teach one the Dhamma
that dispels all suffering,
having understood which
the taintless one here attains nibbāna.
—Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này của bố thí. Thế nào là năm? Ðược nhiều người ái mộ, ưa thích; được bậc Thiện nhân, Chân nhân thân cận; tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi; không có sai lệch pháp của người gia chủ; khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là lợi ích của bố thí.
Người cho được ái kính,
Sở hành là hiền thiện,
Bậc Hiền thường thân cận,
Sống Phạm hạnh chế ngự.
Thuyết pháp người bố thí,
Ðưa đến khổ đoạn diệt,
Vị ấy biết được pháp,
Lậu hoặc được tịch tịnh.
“Pañcime, bhikkhave, dāne ānisaṁsā.
Katame pañca?
Bahuno janassa piyo hoti manāpo;
santo sappurisā bhajanti;
kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati;
gihidhammā anapagato hoti;
kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Ime kho, bhikkhave, pañca dāne ānisaṁsāti.
Dadamāno piyo hoti,
sataṁ dhammaṁ anukkamaṁ;
Santo naṁ sadā bhajanti,
saññatā brahmacārayo.
Te tassa dhammaṁ desenti,
Sabbadukkhāpanūdanaṁ;
Yaṁ so dhammaṁ idhaññāya,
Parinibbāti anāsavo”ti.
Pañcamaṁ.